Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Đào Tiến Thi - Tôi nghĩ Đảng CSVN không chủ trương tẩy chay Xã Hội Dân Sự

Đào Tiến Thi
“Quan niệm như ông Dương Văn Cừ mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.”
(Thư ngỏ gửi ông Tổng biên tập báo Nhân dân)

Kính gửi ông Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân dân điện tử.

Tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc bài Xã hội dân sự – một thủ đoạn của diễn biến hòa bình [*] của tác giả Dương Văn Cừ (DVC) đăng trên báo Nhân dân điện tử do ông làm tổng biên tập.
Nhận thấy bài báo này có những sai trái trầm trọng, có hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là có hại cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay nên tôi viết cho ông bức thư này.
Tôi xin kể một vài quan niệm sai của tác giả DVC:
Cái sai thứ nhất, tác giả cho rằng “các thế lực thù địch đã tổ chức thành công việc lật đổ chế độ XHCN” tại các nước Đông Âu như Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc và gần đây là các nước Trung Ðông – Bắc Phi. Tôi chưa nói các chế độ XHCN tại các nước Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc bị đổ là do sai lầm của chính các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước ấy như chính các giảng viên của Ban Tuyên giáo Trung ương đã giảng cho chúng tôi nghe qua các đợt học chính trị, mà tôi hãy nói tại thời điểm này nói như thế có đúng không, có lợi không? Nếu ta coi chính phủ đang cầm quyền hiện nay tại các nước Đông Âu (vốn trước kia theo chế độ XHCN) là “thế lực thù địch” thì làm sao chúng ta có thể “làm bạn với tất cả các nước” như đường lối ngoại giao của nhà nước ta hiện nay? Làm sao mà khi gặp gỡ, thăm viếng nhau, các nguyên thủ quốc gia của ta có thể nói với họ “tăng cường hợp tác, hữu nghị” được?

“Các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ” ở Bắc Phi – Trung Đông...
Cái sai thứ hai, ông DVC cho rằng mới đây “các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ ở Bắc Phi – Trung Đông. Chúng ta biết thời gian qua các phương tiện truyền thông của nhà nước ta khi đưa tin về Ai Cập, Tunizi, Lybia đều đưa tin một cách khách quan, không đứng về phía lực lượng nổi dậy, cũng không đứng về phía chính phủ, nhưng các tin tức, bình luận đều cho thấy đó là các chính phủ độc tài, bị nhân dân oán ghét và sự nổi dậy của nhân dân như một tất yếu. Thế mà ông DVC lại coi nhân dân nổi dậy là lực lượng “thù địch” thì hỏi ràng thù địch với ai? chẳng hóa ra ông bênh vực các chế độ độc tài đó? Trong khi tôi chưa thấy một quan chức nào của chính phủ ta ra tuyên bố ủng hộ các chế độ độc tài đó cả. Và với quan niệm như ông DVC thì làm sao chúng ta chơi được với các chính phủ mới của các nước này?
Tổng hợp cả hai ý tôi muốn nói là: chính phủ cầm quyền các quốc gia nói trên (bất kể ở giai đoạn nào) nếu họ sai trái, phản động thì ta có quyền chỉ trích nhưng chỉ trích sự lựa chọn của nhân dân các nước ấy có nên không, cũng như khi ta bị các nước khác chỉ trích, người phát ngôn của nhà nước ta đều khẳng định đây là quyền lựa chọn riêng của nhân dân ta, không ai có quyền áp đặt một chế độ lên một nước khác.
Tóm lại, phát ngôn của ông DVC rất có hại cho đường lối ngoại giao “làm bạn với tất cả nhân dân các nước” của chính phủ ta hiện nay. Tuy nhiên, hai điều trên vẫn chưa phải điều cơ bản tôi muốn nói trong thư này. Trong thư này, tôi muốn nói, quan điểm tẩy chay xã hội dân sự (XHDS) của ông DVC là một quan điểm sai lầm và đi ngược chủ trương của Đảng CSVN.
Chủ trương của Đảng CSVN là xây dựng Việt Nam thành một nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tên nước ta lúc từ mới thành lập cho đến ngày giải phóng miền Nam là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Rõ ràng dân chủ là mục tiêu, là ý nguyện của Đảng và nhân dân ta. Trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, dân chủ còn là điều kiện quan trọng, vì nếu không có nó thì làm sao chống được tham nhũng, lạm quyền, vi phạm pháp luật, làm sao có được xã hội “công bằng”“văn minh”? Mà muốn có dân chủ thì phải xây dựng XHDS.
Sau đây, tôi dùng chính cách hiểu về XHDS của ông DVC và thực tế để chứng minh cái việc tẩy chay XHDS của ông DVC là hoàn toàn mù quáng và phản động.
1. Ông DVC nêu nội dung XHDS qua trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Liên minh Thế giới vì sự tham gia của Công dân (CIVICUS): “XHDS là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đoạn khác ông lại viết:
Nhìn từ cấu thành cơ bản một xã hội với ba thành phần là nhà nước, doanh nghiệp và XHDS, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng, nếu ba yếu tố này cân bằng thì xã hội, chế độ chính trị sẽ ổn định, phát triển hài hòa. Ngược lại, nhà nước mạnh sẽ dẫn tới chế độ độc tài, nếu XHDS mạnh, thì sẽ dẫn tới vô chính phủ, bất ổn về xã hội và chế độ sẽ sụp đổ”.
Như vậy XHDS đảm bảo cho việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. XHDS chỉ mới yếu thôi thì đã dẫn đến chế độ độc tài, vậy nếu không có XHDS nữa thì ra sao? Mặt khác, chỉ vì sợ XHDS mạnh, dẫn đến vô chính phủ mà dứt khoát từ chối XHDS thì có đúng không? Vai trò của nhà nước với bộ máy công cụ khổng lồ để đi đâu? Cứ cái lý lẽ như thế thì chắc khi ông DVC mắc bệnh, ông thà chết chứ không uống thuốc, vì sợ thuốc gây ra tác dụng phụ. Còn bảo “Ðây chính là lý do để các thế lực thù địch quan tâm nghiên cứu, vận dụng, nhằm lợi dụng vai trò của XHDS trong hoạt động lật đổ một chế độ” thì không sợ “thế lực thù địch” nó cười cho hay sao? Chả lẽ “các thế lực thù địch” nó mạnh đến thế và nhà nước mình yếu kém đến thế? Thật cứ như người cớm nắng sợ ra nắng gió vậy.

Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự.
2. Tôi là người thường xuyên đi nghe giảng về tình hình đất nước. Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự. Có giảng viên còn cho rằng nhiều vấn nạn hiện nay như tham nhũng, kỷ cương, đạo đức xuống cấp, ách tắc và tai nạn giao thông,… là vì chúng ta không có XHDS. Theo tôi, nói chính xác, XHDS ở nước ta không phải không có nhưng mà nó hoạt động quá yếu: công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,… nhiều tổ chức lắm nhưng lại hoàn toàn thụ động. Thế nên mới luôn luôn xảy ra hiện tượng các ôsin và người làm công bị chủ đối xử tệ bạc, hành hung mà không bị lên án, không bị đưa ra xử lý kịp thời, trong khi các tổ chức dân sự ở cơ sở như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tổ dân phố đều biết! Trong khi đó ở các nước văn minh, một người chỉ vẽ bậy lên tường, xéo lên cỏ ở công viên đã không thể yên với các tổ chức XHDS ở xung quanh, chả cần đến nhà nước phải xử lý. Cách đây mấy năm, một lần đi nghe một chuyên gia về xã hội học văn học người Pháp nói chuyện, tôi có hỏi, rằng bên Pháp, chế độ kiểm duyệt các xuất bản phẩm diễn ra như thế nào, thì ông ấy bảo ở Pháp hiện nay chính phủ không thực hiện chế độ kiểm duyệt. Một xuất bản phẩm nếu vi phạm pháp luật thì ngành tòa án sẽ xử, còn nếu chỉ vi phạm đạo đức, lối sống,… thì sẽ bị các tổ chức dân sự (không thuộc chính phủ) lên án, tẩy chay.
3. Nhìn lại lịch sử thì mầm mống XHDS ở nước ta hình thành từ rất sớm và đã đóng góp rất to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Các công xã nông thôn là hình thức tự quản trước khi có nhà nước. Khi có nhà nước phong kiến rồi thì công xã nông thôn vẫn tồn tại ở địa phương, song song với nhà nước trung ương dưới hình thức xóm và làng, gọi chung là làng xã. Tổ chức làng xã theo nhà nghiên cứu văn hóa, GS.VS. Trần Ngọc Thêm: “Nó là nguồn gốc của tính dân chủ (nhấn mạnh của Trần Ngọc Thêm), bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng nhau, bình đẳng với nhau. Đó là loại dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc; trong lịch sử, nền dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản của xã hội phương Tây”[1]

Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
Cũng theo Trần Ngọc Thêm, tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử. Tính cộng đồng thể hiện sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới người khác, còn tính tự trị thể hiện làng xã tự bầu lên người lãnh đạo, tự xây dựng luật lệ cho riêng mình. Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
XHDS xưa còn thể hiện ở hàng loạt sự kiện và nhân vật như những trang sử đẹp còn truyền mãi. Bà Linh Từ Quốc mẫu (vợ Thái sư Trần Thủ Độ), giữa lúc giặc Mông Cổ tràn vào Thăng Long (1258), đã tự mình tổ chức việc sơ tán cho các thái tử, cung phi, công chúa, vợ con các tướng lĩnh về vùng an toàn, rồi bà còn trưng mua vũ khí riêng của các gia đình chuyển cho quân đội. Trần Quốc Toản gặp lúc giặc Nguyên lăm le ngoài bờ cõi, mới 16 tuổi đã tự thành lập đội dân binh 1000 người, tự tập luyện, rèn đúc vũ khí, và khi giặc tràn vào xâm lược (1285, lúc ông 18 tuổi) đã giương cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” xông ra trận. Đốc học Phạm Văn Nghị (1805 – 1880), gặp lúc giặc Pháp đánh Đà Nẵng, đã tự mộ được 300 nghĩa binh xin đi đánh giặc; đội nghĩa binh của ông từ Nam Định vào đến Huế thì vừa lúc quân Pháp rút vào Gia Định, ông lại xin tiếp vua Tự Đức vào Gia Định nhưng vua không cho. Trong công cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX có sự đóng góp rất lớn của các đội dân binh do những người áo vải tự tổ chức như Trương Định, Nguyễn Trung Trực và bao đội nghĩa binh vô danh khác. Họ đã phối hợp với quân triều đình trong việc đẩy lui quân địch. Họ tiếp tục chiến tranh du kích ngay cả khi triều đình đã thua trận hoặc đầu hàng.
Đầu thế kỷ XX, Đông Kinh nghĩa thục cũng là một hình ảnh sinh động của một tổ chức dân sự đã làm nhiệm vụ khai dân trí, bước khởi đầu để dân ta thoát khỏi đêm trường trung cổ.
Thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liệu cách mạng có thành công không, thậm chí có hoạt động được không, nếu không có các tổ chức dân sự như Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ, Hội Văn hóa Cứu quốc, Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình Việt Nam,… Tất cả đều là hình ảnh của XHDS.
Chỉ sơ sơ như vậy cũng đủ thấy XHDS như là vốn dĩ cần thiết của nền văn minh nhân loại. Nó là hình thức tự quản đã có từ rất xa xưa, tồn tại song song với nhà nước, bất kể là chế độ nào. Trong xã hội hiện đại, XHDS lại càng quan trọng, để nhân dân tham gia vào mọi mặt của đời sống đất nước, để duy trì sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và nhân dân, tránh nạn độc tài, lạm quyền, vi hiến. Tôi nghĩ XHDS có thể cùng với nhà nước hoặc tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề của đời sống. Hình ảnh các cháu thanh niên áo xanh, mũ tai bèo điều khiển giao thông, hình ảnh một ông Tây đứng ra phân luồng giao thông, hình ảnh một bà lão nghèo chuyên đi nhặt thủy tinh, kim tiêm vứt bừa bãi,… không phải là hình ảnh đẹp của XHDS hay sao? Nếu họ rủ nhau dăm ba người thành một nhóm, vài chục vài trăm người thành một tổ chức, hỗ trợ nhau để làm những việc có ích như trên thì xã hội lành mạnh biết bao, lại khỏi tốn kém gì của nhà nước. Tất cả chỉ cần tuân thủ hiến pháp và pháp luật, thế thì hại ở chỗ nào, lật đổ ở chỗ nào? Tại sao ở các nước văn minh người ta có XHDS hàng trăm năm rồi mà họ không sợ bị lật đổ chế độ?
Thật đáng buồn, chúng ta đang sợ nhiều cái không đáng sợ, trong đó có nhiềi cái đẹp, cái quý; còn nhiều cái đáng sợ như tham nhũng, buôn lậu, bạo lực,… thì chúng ta lại để nhởn nhơ, coi như sự thường?
Không, tôi không tin Đảng CSVN chủ trương tẩy chay XHDS. Chỉ có thái độ còn e dè, sợ mất tầm kiểm soát. Cái khó có lẽ là chưa có lộ trình cho nó. Nhưng nếu tin vào dân, không quá sợ hãi cái gọi là “các thế lực thù địch” thì chẳng đến nỗi khó khăn.

Ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Quan niệm như ông DVC mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì ông tạo ra hình ảnh xấu về Đảng và Nhà nước Việt Nam trước quốc tế, cứ như Việt Nam khước từ dân chủ, tạo ra sự đối lập Việt Nam với phần còn lại của thế giới, khiến Việt Nam mất hết bạn bè.
Tôi không nghĩ một cơ quan ngôn luận của Đảng lại đi làm cái việc hại Đảng như thế. Ban biên tập nào, biên tập viên nào để lọt bài viết sai trái và yếu kém về lý luận như trên cần phải kiểm điểm, xử phạt.
Trân trọng kính chào ông Tổng biên tập.
Đào Tiến Thi

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Trần Mạnh Hảo - Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời



Trần Mạnh Hảo

1- CHUYỆN THẬT VỀ NHỮNG CÂU HỎI NGƯỢC ĐỜI

Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:
1- Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mác-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx?
2- Trong một lần trả lời con gái, K. Marx cho rằng HOÀI NGHI là phẩm chất đẹp nhất của người trí thức. Lời dạy của Marx còn đúng hay không nếu người trí thức (cụ thể là nhà văn) hôm nay có lúc rất hoài nghi sự lãng đạo của đảng?
3- Theo chúng tôi nghĩ, căn cứ vào chủ nghĩa Marx, thì câu khẩu hiệu trong Hội trường thành uỷ: “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm” là một khẩu hiệu chống Mac-xit? Vì Marx bảo lúc tới chủ nghĩa đại đồng, sẽ không còn giai cấp, tức không còn đảng của các giai cấp, nghĩa là đảng cộng sản vĩ đại cũng không còn! Vậy ta hô đảng cộng sản muôn năm có phải là không bao giờ muốn có chuyện tiến lên chủ nghĩa cộng sản, chuyện ấy chỉ là bánh vẽ; cầm bằng như ta hô: xã hội loài người có giai cấp muôn năm hay không?
4- Marx dạy rằng: kinh tế quyết định chính trị, cơ sở hạ tầng quyết định ý thức thượng tầng; thế nhưng hiện nay, đảng ta đã làm ngược lời Marx dạy. Nền kinh tế của ta hiện nay là nền kinh tế thị trường đa nguyên, nếu theo Marx thì nền chính trị của ta hiện nay cũng phải là nền chính trị đa nguyên mới đúng quy luật, sao ta vẫn giữ chính trị nhất nguyên là sao? Việc khôi hài hiện nay của đất nước ta là đảng cộng sản, đảng của giai cấp vô sản có nhiệm vụ phải đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, lại đang ra sức xây dựng chủ nghĩa tư bản, rước tư bản nước ngoài vào để bóc lột công nhân? Việc cơ sở hạ tầng là nền kinh tế tập trung = xã hội chủ nghĩa đã bị kinh tế thị trường đập tan, sao trên ý thức thượng tầng vẫn trưng bảng hiệu định hướng xã hội chủ nghĩa, có phải là đầu voi tư bản vẫn lòi đuôi chuột xã hội chủ nghĩa = xếp hàng cả ngày hay không?
5- Chủ nghĩa cộng sản đã tự tan rã ngay chính trên quê hương của nó là Liên xô và các nước Đông Âu. Chứng tỏ chủ nghĩa Mác-Lê không thích hợp với “thổ nhưỡng kinh tế – chính trị” của các nước trên. Vậy, Việt Nam là một đất nước nằm ngoài bản đồ của chủ nghĩa Marx, sao ta cứ phải nô lệ mãi vào cái lý thuyết xa lạ kia để làm khổ đồng bào, việc đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội của đảng ta có giống chuyện đảng ta chủ trương phấn đấu đến năm 2020 cả nước sẽ có tuyết rơi trong mùa đông và sông Hồng, sông Cửu Long sẽ đóng băng ngày đông chí vậy?
Chúng tôi còn viết thư gửi các vị lãnh đạo đảng nhiều câu hỏi khác, nhưng hầu như không được trả lời.

2- CHUYỆN GIẢ TƯỞNG VỀ MỘT SỰ THẬT BI HÀI

Ai bảo Marx (Karl) (1818-1883), người Đức gốc Do Thái, cha đẻ của chủ nghĩa xã hội khoa học, còn gọi là chủ nghĩa cộng sản đã chết thì tôi vẫn còn bán tín bán nghi. Những người cánh tả trên thế giới từ giữa thế kỷ thứ XIX đến nay vẫn coi Marx như là Chúa Jesus mới của giai cấp vô sản. Người Do Thái làm nghề thợ mộc (công nhân) Jesus đã bị đóng đinh trên thập giá và chết năm 33 tuổi; nhưng rồi theo các tông đồ của Ngài kháo nhau rằng Chúa đã sống lại và lên trời. Kẻ viết bài này chưa từng là tông đồ của vị “thánh” Marx Do Thái kia, nhưng vẫn tin lời đồn rằng đại triết gia này chết rồi nhưng vừa bí mật sống lại. Và Marx đã sống lại để tới Bắc Kinh và Hà Nội đòi kiện nhà cầm quyền 2 quốc gia này ra tòa án quốc tế.
Khi vừa sống lại, nghe tin Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba lấy học thuyết của mình để cai trị dân, để làm bình phong cho chế độ toàn trị, Marx phẫn nộ vô cùng. Rõ ràng, trong các trước tác của Ngài, Ngài chả nói rõ như ban ngày rằng: phương thức sản xuất châu Á (gồm các nước trong vùng văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập, Châu Phi, Mỹ Latinh da đỏ…, Caribe…) thì Ngài hoàn toàn mù tịt. Chính Marx đã công nhận học thuyết của Ngài chỉ thích hợp với các nước đã có nền tư bản chủ nghĩa vào giữa thế kỷ thứ XIX như: Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Mỹ…Như vậy, các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên đâu có nằm trong bản đồ của chủ nghĩa Marx? Marx ức lắm, toan gầm lên cho cả thế giới rằng: đưa chủ nghĩa Marx vào các nước châu Á là mạo danh, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, đưa chủ nghĩa của ta về áp dụng vào cái chỗ không thể áp dụng, khác nào lấy thuốc chữa tim mạch về chữa bệnh hắc lào? Marx quyết đến bằng được các nước mạo danh Ngài kia để làm cho ra nhẽ.
Sau khi vào mạng Iternet, đọc qua các trang web Talawas. org, Doi-thoai. com, Danchimviet. com…Marx mới biết vài ba nhà nước châu Á treo ảnh mình lên ở khắp nơi, coi mình là ông tổ của chế độ, rồi mặc sức làm ngược lại tất cả các giáo điều của Ngài vốn đã bị thời đại Internet bỏ qua. Ngài dạy trí thức phải hoài nghi, vì hoài nghi là đức tính quý nhất của con người như có lần Ngài trả lời con gái. Thế mà ở Việt Nam hiện nay, ai viết bài hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là có thể bị chế độ bắt liền. Ngài dạy: chủ nghĩa của Ngài nhằm đạt tới tự do cá nhân, nhằm giải phóng con người thoát khỏi sự giả dối của chính trị, thì các nước châu Á mạo danh Ngài kia cấm tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do mít tinh, hội họp, cho chính trị là thống soái và chính trị hoá toàn bộ kiến thức thượng tầng, ngay món thuốc phiện (tôn giáo) cũng bị chính trị hoá mới lạ chứ?
Marx tới Bắc Kinh thuê tắc-xi vào Thiên An Môn, vào tới Đại sảnh đường nhân dân, được mời trà Long Tỉnh Hàng Châu xong, liền bị bị chính quyền của lãnh. tụ Hồ Cẩm Đào trục xuất. Marx quyết định bay tới Hà Nội. Công an Trung Quốc đã báo tin này cho công an Việt Nam. Khi Marx bước xuống sân bay Nội Bài, bèn bị công an bắt liền, xác minh từ người đến giấy tờ, biết đích xác là K. Marx, liền đưa Ngài vào thẩm vấn:
Marx tức lắm hỏi và công an trả lời như sau:
- Ta là ông tổ đẻ ra chế độ của các người, sao các người lại bắt ta?
- Nếu để dân nó biết Marx sống lại tìm tới đây, sẽ mất ổn định chính trị! Ông xui nhân dân hoài nghi, nên dân giờ đến 90% không còn tin tưởng tuyệt đối vào đảng nữa, đó là tội của ông! Ông lại bảo kinh tế nào chính trị ấy. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là kinh tế tư bản, vậy chính trị cũng phải đa nguyên như chính trị tư bản à? Người ta đang hô đảng cộng sản muôn năm, sao ông lại chủ trương cuối cùng khi tới đại đồng cộng sản, đảng cộng sản cũng phải tự triệt tiêu, thế thì làm sao muôn năm được hở ông Marx lẩm cẩm kia? Cái tội lớn nhất của ông là sinh ra biện chứng pháp; tuy là Hegel chủ xướng nhưng ông phát triển thêm và phải chịu trách nhiệm, lúc nào và cái gì cũng phải có đối lập, coi đối lập là phản đề của biện chứng, thậm chí là linh hồn của phép biện chứng. Chính ông xui mấy tên Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Dương Thu Hương, Lữ Phương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Đan Quế, Tiêu Dao Bảo Cự, Phương Nam- Đỗ Nam Hải, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Phạm Quế Dương, Vũ Cao Quận, Nguyễn Chính Kết, Trần Dũng Tiến…đòi đa nguyên đa đảng, đòi đối lập chính trị chứ còn ai, tội ông to lắm ông Marx ạ!
Marx sợ quá run như tên bắn. Hoá ra chế độ nhân danh tên tuổi ta này thua xa cái chế độ tư bản châu Âu thế kỷ thứ XIX. Thời đó, ta sinh ra học thuyết để dùng giai cấp vô sản mà chôn chế độ tư bản. Marx ta lúc đó chính là kẻ thù không đội trời chung của các chế độ tư bản châu Âu và Bắc Mỹ. Nói dại nếu hồi đó các ông Hồ Cẩm Dào, Nông Đức Mạnh, Kim Chung In, Phiden Caxtro mà cầm quyền ở Anh, Đức Pháp, Bỉ thì Marx ta đây và Angels chắc chắn đã bị treo cổ. Marx ta dù từ bỏ quốc tịch Đức, bị chính quyền Đức, Bỉ, Pháp trục xuất nhưng Luân đôn nước Anh là thủ đô của chủ nghĩa tư bản vẫn để ta tư do ra báo, in sách, lập hội lập đảng chống lại tư bản thế giới. Thậm chí, năm 1863 ta đã gửi tác phẩm vĩ đại nhất của ta dùng để chôn chủ nghĩa tư bản là cuốn “Tư bản luận” về in tới 1000 cuốn phát hành tại Hambourg, nước Đức, nơi lệnh trục xuất ta vẫn còn nguyên hiệu lực. Sao chế độ tư bản chúng nó lại tự do quá nhỉ? Còn các chế đột tự xưng là cộng sản thì ngược lại là làm sao? Ta nghe nói đám Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Mai Thái Lĩnh, Bùi Minh Quốc…mới viết mấy điều đơn giản đòi tự do, dân chủ đã bị bắt thì thà rằng thế giới trở lại thế kỷ thứ XIX mà hưởng tự do tư sản như ta và Anghels ngày nào có sướng hơn không?
Nghe nói sau rồi công an Việt Nam bí mật đưa ông K. Marx đi đâu không rõ. Chuyện về một nền chính trị ngược đời sẽ còn xin kể tiếp sau để hầu bạn đọc và xin các nhà lý luận trong nước và nước ngoài chỉ giáo, chứ đừng đem công an ra để “đối thụi” với nhân dân.
Sài gòn 10-2005
T. M. H.

http://danluan.org/tin-tuc/20121111/tran-manh-hao-chuyen-that-nhu-dua-ve-mot-nen-chinh-tri-nguoc-doi

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Hồng Ngọc - Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị

Hồng Ngọc
Cả thế giới nín thở theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Thậm chí rất nhiều người trong số đó thiếu sự quan tâm thật sự với cuộc bầu cử ngay trên đất nước mình! Liệu đó có phải là điều kỳ lạ?

Dân chủ và bầu cử

Dân chủ, hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy từ nơi mà khái niệm này được sinh ra – nhà nước Athens thế kỷ 4-5 trước Công nguyên – có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Từ dân chủ trong tiếng Việt là từ Hán Việt, có thể hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa chiết tự của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong đời sống, chúng ta nôm na hóa nó thành “dân làm chủ”.
Hầu như tất cả các chế độ xã hội trong lịch sử theo thế quyền đều tự cho mình là dân chủ. Vì ai nắm quyền lực cũng đều tự xưng rằng mình nắm quyền là chính đáng. Nếu không nhân danh thần quyền (nắm quyền theo ý Chúa hoặc ý Trời), thì tất nhiên là phải theo ý nguyện của nhân dân.
Nhưng làm thế nào để quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, để dân thật sự làm chủ thì lại là cả một hệ thống triết lý và tổ chức chính trị.
Trong hình thức lý tưởng, dân chủ nghĩa là tất cả mọi người cùng thảo luận, cùng biểu quyết để ra quyết định chung cho cộng đồng, chính là dân chủ trực tiếp. Nhưng trong thực tế nhân loại, “sân khấu” đông nhất để tụ họp chỉ có chừng 100 ngàn chỗ ngồi, là vài sân vận động lớn nhất thế giới chứ không phải là các quảng trường chính trị. Nếu các quảng trường có tới 100 ngàn chỗ có thể ngồi, thì đó chỉ là nơi tụ họp để biểu tình chứ không phải có chức năng thảo luận và biểu quyết, vì không thể tổ chức và điều phối cho 100 ngàn người cùng thảo luận.
Lịch sử hiện đại lại không có vị thế cho quốc gia dưới 100 ngàn dân. Vì thế, dân chủ trực tiếp ở quy mô quốc gia là không tồn tại. Hình thức thay thế khả dĩ nhất là dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện, ở đó, người dân bầu ra các đại biểu đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định chung cho cộng đồng. Đó là các dân biểu. Trong các chế độ theo mô hình Tổng thống như nước Mỹ, người dân còn trực tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các dân biểu sẽ thảo luận và ra quyết định về luật và chính sách. Trong các chế độ theo mô hình Nghị viện, các dân biểu còn bầu chọn ra người đứng đầu cơ quan hành pháp.

Bầu cử và không khí chính trị

Như vậy, bầu cử chính là hành vi quan trọng nhất trong một chế độ dân chủ. Vì nó là điểm mấu chốt cho việc người dân được làm chủ, trong mô hình dân chủ gián tiếp, khi người dân chọn ra những người đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định đời sống chung của cộng đồng.
Nhưng tổ chức bầu cử như thế nào để người dân được lựa chọn đúng người mà họ muốn làm đại diện cho mình là việc quan trọng không kém.
Thứ nhất, cuộc bầu cử phải bảo đảm rằng nó tạo cơ hội cho tất cả các ứng viên có ý nguyện đại diện và phục vụ cho cộng đồng. Một cuộc bầu cử phản dân chủ thì tìm cách loại những ứng viên tiềm năng bằng cách đặt thêm điều kiện, hoặc ngụy tạo các lý do để loại bỏ bớt ứng viên. Thường thì mọi sự sắp đặt loại bớt ứng viên đều có bàn tay của chính quyền đương nhiệm, vì con người có khuynh hướng níu kéo quyền lực. Để loại bỏ can thiệp của chính quyền đương nhiệm, cách duy nhất là phải có Ủy ban bầu cử độc lập.
Thứ hai, cử tri phải biết ứng viên là ai. Không thể chỉ là hồ sơ khô khốc về học vị, tiểu sử chính trị, và chức vụ hiện tại. Chức vụ hiện tại đương nhiên là lợi thế cho các quan chức đương nhiệm. Hầu hết các nền dân chủ quy định bắt buộc ứng viên phải cư trú ở địa bàn tranh cử, và nhiều khi công khai cả tài sản, thu nhập, gia đình, bên cạnh quá trình công tác chính trị và cộng đồng. Đó vừa là cách để cử tri hiểu rõ ứng viên là ai, không chỉ trên phương diện chính trị mà cả trên phương diện con người – cơ sở của lòng tin vào ứng viên để lựa chọn.
Thứ ba, khuynh hướng chính trị của ứng viên. Các đảng phái chính trị tự nó đã có các khuynh hướng chính trị, thông qua cương lĩnh. Cử tri không chỉ bầu cho ứng viên – con người cụ thể mà còn bầu cho chính đảng đó (điều này có thể khác ở những nơi một đảng nắm vai trò lãnh đạo, bởi họ không cần cạnh tranh).
Thứ tư, dự án của ứng viên hoặc chính đảng. Đó là những mục tiêu, chương trình hành động của ứng viên hoặc chính đảng. Cử tri chỉ có thể lựa chọn đúng ứng viên đại diện cho mình khi mối quan tâm của cử tri chính là mục tiêu của các ứng viên. Và mục tiêu đó chỉ thuyết phục được cử tri khi nó có kế hoạch, có biện pháp để thực hiện một cách khả thi.
Chính khuynh hướng và dự án chính trị làm cho bầu cử thoát khỏi ý nghĩa như là sự trình diễn hình ảnh nhân vật, hay cuộc thi diễn xuất trên sân khấu điện ảnh. Chúng ta vẫn hay nhìn nhận cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ như cuộc trình diễn của Hollywood, nhưng chưa từng có siêu sao điện ảnh nào đắc cử Tổng thống Mỹ. Chỉ có một người duy nhất từng là diễn viên, nhưng lại là diễn viên hạng hai.
Cuộc thảo luận về các khuynh hướng, dự án chính trị chính là yếu tố làm nóng không khí chính trị của các xã hội dân chủ. Thông qua thảo luận, người dân hiểu rõ hơn về tổ chức chính trị, sự vận hành của hệ thống chính trị, về các đảng phái, về các ứng viên, về dự án và tính khả thi của dự án. Nếu bản thân người dân không hiểu, họ sẽ được “hỗ trợ” từ đối thủ chính trị của ứng viên. Vì khi cuộc bầu cử là cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái, nếu một đảng chỉ ra điểm yếu của đối thủ thì đảng đó có thêm cơ hội thắng cử. Khi cử tri hiểu rõ những điều đó, lá phiếu của họ sẽ chính xác hơn.
Tất nhiên, cuộc thảo luận đó không thể thiếu các cơ quan truyền thông. Nó không chỉ bộc lộ quan điểm của mình mà còn là diễn đàn để các bên thảo luận. Dù với vai trò nào, truyền thông có khả năng tác động tới kết quả bầu cử. Nếu truyền thông nằm trong tay chính phủ đương nhiệm, về nguyên tắc khó có một cuộc bầu cử công bằng.
Một cuộc bầu cử đáp ứng đủ những yêu cầu trên đây cũng là một cuộc bầu cử tốn kém về thời gian và tiền bạc. Như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới đây tiêu tốn tới 6 tỷ USD.
Về bản chất, số tiền đó không mất đi, mà chỉ là sự luân chuyển giữa các thành phần của xã hội Mỹ. Đổi lại, nó giúp người dân Mỹ lựa chọn đúng ứng viên đáp ứng mong mỏi của mình trong một cuộc cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng viên.
Đó là lý do mà các cuộc bầu cử ở Mỹ luôn được hâm nóng trong thời gian dài, được theo dõi sát sao trong thời gian bầu cử bởi ngay cả những cư dân ngoài nước Mỹ.
Vì không ai biết trước ý chí của nhân dân, dù có vô số cuộc thăm dò xã hội học. Nó trái ngược với những cuộc “bầu cử” mà người chiến thắng, chính đảng chiến thắng được biết trước, thậm chí được sắp đặt trước, nên tất nhiên cũng xứng đáng được quan tâm hơn.
Hồng Ngọc