Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Đào Tiến Thi - Tôi nghĩ Đảng CSVN không chủ trương tẩy chay Xã Hội Dân Sự

Đào Tiến Thi
“Quan niệm như ông Dương Văn Cừ mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.”
(Thư ngỏ gửi ông Tổng biên tập báo Nhân dân)

Kính gửi ông Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân dân điện tử.

Tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc bài Xã hội dân sự – một thủ đoạn của diễn biến hòa bình [*] của tác giả Dương Văn Cừ (DVC) đăng trên báo Nhân dân điện tử do ông làm tổng biên tập.
Nhận thấy bài báo này có những sai trái trầm trọng, có hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là có hại cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay nên tôi viết cho ông bức thư này.
Tôi xin kể một vài quan niệm sai của tác giả DVC:
Cái sai thứ nhất, tác giả cho rằng “các thế lực thù địch đã tổ chức thành công việc lật đổ chế độ XHCN” tại các nước Đông Âu như Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc và gần đây là các nước Trung Ðông – Bắc Phi. Tôi chưa nói các chế độ XHCN tại các nước Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc bị đổ là do sai lầm của chính các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước ấy như chính các giảng viên của Ban Tuyên giáo Trung ương đã giảng cho chúng tôi nghe qua các đợt học chính trị, mà tôi hãy nói tại thời điểm này nói như thế có đúng không, có lợi không? Nếu ta coi chính phủ đang cầm quyền hiện nay tại các nước Đông Âu (vốn trước kia theo chế độ XHCN) là “thế lực thù địch” thì làm sao chúng ta có thể “làm bạn với tất cả các nước” như đường lối ngoại giao của nhà nước ta hiện nay? Làm sao mà khi gặp gỡ, thăm viếng nhau, các nguyên thủ quốc gia của ta có thể nói với họ “tăng cường hợp tác, hữu nghị” được?

“Các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ” ở Bắc Phi – Trung Đông...
Cái sai thứ hai, ông DVC cho rằng mới đây “các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ ở Bắc Phi – Trung Đông. Chúng ta biết thời gian qua các phương tiện truyền thông của nhà nước ta khi đưa tin về Ai Cập, Tunizi, Lybia đều đưa tin một cách khách quan, không đứng về phía lực lượng nổi dậy, cũng không đứng về phía chính phủ, nhưng các tin tức, bình luận đều cho thấy đó là các chính phủ độc tài, bị nhân dân oán ghét và sự nổi dậy của nhân dân như một tất yếu. Thế mà ông DVC lại coi nhân dân nổi dậy là lực lượng “thù địch” thì hỏi ràng thù địch với ai? chẳng hóa ra ông bênh vực các chế độ độc tài đó? Trong khi tôi chưa thấy một quan chức nào của chính phủ ta ra tuyên bố ủng hộ các chế độ độc tài đó cả. Và với quan niệm như ông DVC thì làm sao chúng ta chơi được với các chính phủ mới của các nước này?
Tổng hợp cả hai ý tôi muốn nói là: chính phủ cầm quyền các quốc gia nói trên (bất kể ở giai đoạn nào) nếu họ sai trái, phản động thì ta có quyền chỉ trích nhưng chỉ trích sự lựa chọn của nhân dân các nước ấy có nên không, cũng như khi ta bị các nước khác chỉ trích, người phát ngôn của nhà nước ta đều khẳng định đây là quyền lựa chọn riêng của nhân dân ta, không ai có quyền áp đặt một chế độ lên một nước khác.
Tóm lại, phát ngôn của ông DVC rất có hại cho đường lối ngoại giao “làm bạn với tất cả nhân dân các nước” của chính phủ ta hiện nay. Tuy nhiên, hai điều trên vẫn chưa phải điều cơ bản tôi muốn nói trong thư này. Trong thư này, tôi muốn nói, quan điểm tẩy chay xã hội dân sự (XHDS) của ông DVC là một quan điểm sai lầm và đi ngược chủ trương của Đảng CSVN.
Chủ trương của Đảng CSVN là xây dựng Việt Nam thành một nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tên nước ta lúc từ mới thành lập cho đến ngày giải phóng miền Nam là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Rõ ràng dân chủ là mục tiêu, là ý nguyện của Đảng và nhân dân ta. Trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, dân chủ còn là điều kiện quan trọng, vì nếu không có nó thì làm sao chống được tham nhũng, lạm quyền, vi phạm pháp luật, làm sao có được xã hội “công bằng”“văn minh”? Mà muốn có dân chủ thì phải xây dựng XHDS.
Sau đây, tôi dùng chính cách hiểu về XHDS của ông DVC và thực tế để chứng minh cái việc tẩy chay XHDS của ông DVC là hoàn toàn mù quáng và phản động.
1. Ông DVC nêu nội dung XHDS qua trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Liên minh Thế giới vì sự tham gia của Công dân (CIVICUS): “XHDS là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đoạn khác ông lại viết:
Nhìn từ cấu thành cơ bản một xã hội với ba thành phần là nhà nước, doanh nghiệp và XHDS, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng, nếu ba yếu tố này cân bằng thì xã hội, chế độ chính trị sẽ ổn định, phát triển hài hòa. Ngược lại, nhà nước mạnh sẽ dẫn tới chế độ độc tài, nếu XHDS mạnh, thì sẽ dẫn tới vô chính phủ, bất ổn về xã hội và chế độ sẽ sụp đổ”.
Như vậy XHDS đảm bảo cho việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. XHDS chỉ mới yếu thôi thì đã dẫn đến chế độ độc tài, vậy nếu không có XHDS nữa thì ra sao? Mặt khác, chỉ vì sợ XHDS mạnh, dẫn đến vô chính phủ mà dứt khoát từ chối XHDS thì có đúng không? Vai trò của nhà nước với bộ máy công cụ khổng lồ để đi đâu? Cứ cái lý lẽ như thế thì chắc khi ông DVC mắc bệnh, ông thà chết chứ không uống thuốc, vì sợ thuốc gây ra tác dụng phụ. Còn bảo “Ðây chính là lý do để các thế lực thù địch quan tâm nghiên cứu, vận dụng, nhằm lợi dụng vai trò của XHDS trong hoạt động lật đổ một chế độ” thì không sợ “thế lực thù địch” nó cười cho hay sao? Chả lẽ “các thế lực thù địch” nó mạnh đến thế và nhà nước mình yếu kém đến thế? Thật cứ như người cớm nắng sợ ra nắng gió vậy.

Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự.
2. Tôi là người thường xuyên đi nghe giảng về tình hình đất nước. Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự. Có giảng viên còn cho rằng nhiều vấn nạn hiện nay như tham nhũng, kỷ cương, đạo đức xuống cấp, ách tắc và tai nạn giao thông,… là vì chúng ta không có XHDS. Theo tôi, nói chính xác, XHDS ở nước ta không phải không có nhưng mà nó hoạt động quá yếu: công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,… nhiều tổ chức lắm nhưng lại hoàn toàn thụ động. Thế nên mới luôn luôn xảy ra hiện tượng các ôsin và người làm công bị chủ đối xử tệ bạc, hành hung mà không bị lên án, không bị đưa ra xử lý kịp thời, trong khi các tổ chức dân sự ở cơ sở như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tổ dân phố đều biết! Trong khi đó ở các nước văn minh, một người chỉ vẽ bậy lên tường, xéo lên cỏ ở công viên đã không thể yên với các tổ chức XHDS ở xung quanh, chả cần đến nhà nước phải xử lý. Cách đây mấy năm, một lần đi nghe một chuyên gia về xã hội học văn học người Pháp nói chuyện, tôi có hỏi, rằng bên Pháp, chế độ kiểm duyệt các xuất bản phẩm diễn ra như thế nào, thì ông ấy bảo ở Pháp hiện nay chính phủ không thực hiện chế độ kiểm duyệt. Một xuất bản phẩm nếu vi phạm pháp luật thì ngành tòa án sẽ xử, còn nếu chỉ vi phạm đạo đức, lối sống,… thì sẽ bị các tổ chức dân sự (không thuộc chính phủ) lên án, tẩy chay.
3. Nhìn lại lịch sử thì mầm mống XHDS ở nước ta hình thành từ rất sớm và đã đóng góp rất to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Các công xã nông thôn là hình thức tự quản trước khi có nhà nước. Khi có nhà nước phong kiến rồi thì công xã nông thôn vẫn tồn tại ở địa phương, song song với nhà nước trung ương dưới hình thức xóm và làng, gọi chung là làng xã. Tổ chức làng xã theo nhà nghiên cứu văn hóa, GS.VS. Trần Ngọc Thêm: “Nó là nguồn gốc của tính dân chủ (nhấn mạnh của Trần Ngọc Thêm), bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng nhau, bình đẳng với nhau. Đó là loại dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc; trong lịch sử, nền dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản của xã hội phương Tây”[1]

Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
Cũng theo Trần Ngọc Thêm, tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử. Tính cộng đồng thể hiện sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới người khác, còn tính tự trị thể hiện làng xã tự bầu lên người lãnh đạo, tự xây dựng luật lệ cho riêng mình. Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
XHDS xưa còn thể hiện ở hàng loạt sự kiện và nhân vật như những trang sử đẹp còn truyền mãi. Bà Linh Từ Quốc mẫu (vợ Thái sư Trần Thủ Độ), giữa lúc giặc Mông Cổ tràn vào Thăng Long (1258), đã tự mình tổ chức việc sơ tán cho các thái tử, cung phi, công chúa, vợ con các tướng lĩnh về vùng an toàn, rồi bà còn trưng mua vũ khí riêng của các gia đình chuyển cho quân đội. Trần Quốc Toản gặp lúc giặc Nguyên lăm le ngoài bờ cõi, mới 16 tuổi đã tự thành lập đội dân binh 1000 người, tự tập luyện, rèn đúc vũ khí, và khi giặc tràn vào xâm lược (1285, lúc ông 18 tuổi) đã giương cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” xông ra trận. Đốc học Phạm Văn Nghị (1805 – 1880), gặp lúc giặc Pháp đánh Đà Nẵng, đã tự mộ được 300 nghĩa binh xin đi đánh giặc; đội nghĩa binh của ông từ Nam Định vào đến Huế thì vừa lúc quân Pháp rút vào Gia Định, ông lại xin tiếp vua Tự Đức vào Gia Định nhưng vua không cho. Trong công cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX có sự đóng góp rất lớn của các đội dân binh do những người áo vải tự tổ chức như Trương Định, Nguyễn Trung Trực và bao đội nghĩa binh vô danh khác. Họ đã phối hợp với quân triều đình trong việc đẩy lui quân địch. Họ tiếp tục chiến tranh du kích ngay cả khi triều đình đã thua trận hoặc đầu hàng.
Đầu thế kỷ XX, Đông Kinh nghĩa thục cũng là một hình ảnh sinh động của một tổ chức dân sự đã làm nhiệm vụ khai dân trí, bước khởi đầu để dân ta thoát khỏi đêm trường trung cổ.
Thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liệu cách mạng có thành công không, thậm chí có hoạt động được không, nếu không có các tổ chức dân sự như Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ, Hội Văn hóa Cứu quốc, Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình Việt Nam,… Tất cả đều là hình ảnh của XHDS.
Chỉ sơ sơ như vậy cũng đủ thấy XHDS như là vốn dĩ cần thiết của nền văn minh nhân loại. Nó là hình thức tự quản đã có từ rất xa xưa, tồn tại song song với nhà nước, bất kể là chế độ nào. Trong xã hội hiện đại, XHDS lại càng quan trọng, để nhân dân tham gia vào mọi mặt của đời sống đất nước, để duy trì sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và nhân dân, tránh nạn độc tài, lạm quyền, vi hiến. Tôi nghĩ XHDS có thể cùng với nhà nước hoặc tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề của đời sống. Hình ảnh các cháu thanh niên áo xanh, mũ tai bèo điều khiển giao thông, hình ảnh một ông Tây đứng ra phân luồng giao thông, hình ảnh một bà lão nghèo chuyên đi nhặt thủy tinh, kim tiêm vứt bừa bãi,… không phải là hình ảnh đẹp của XHDS hay sao? Nếu họ rủ nhau dăm ba người thành một nhóm, vài chục vài trăm người thành một tổ chức, hỗ trợ nhau để làm những việc có ích như trên thì xã hội lành mạnh biết bao, lại khỏi tốn kém gì của nhà nước. Tất cả chỉ cần tuân thủ hiến pháp và pháp luật, thế thì hại ở chỗ nào, lật đổ ở chỗ nào? Tại sao ở các nước văn minh người ta có XHDS hàng trăm năm rồi mà họ không sợ bị lật đổ chế độ?
Thật đáng buồn, chúng ta đang sợ nhiều cái không đáng sợ, trong đó có nhiềi cái đẹp, cái quý; còn nhiều cái đáng sợ như tham nhũng, buôn lậu, bạo lực,… thì chúng ta lại để nhởn nhơ, coi như sự thường?
Không, tôi không tin Đảng CSVN chủ trương tẩy chay XHDS. Chỉ có thái độ còn e dè, sợ mất tầm kiểm soát. Cái khó có lẽ là chưa có lộ trình cho nó. Nhưng nếu tin vào dân, không quá sợ hãi cái gọi là “các thế lực thù địch” thì chẳng đến nỗi khó khăn.

Ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Quan niệm như ông DVC mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì ông tạo ra hình ảnh xấu về Đảng và Nhà nước Việt Nam trước quốc tế, cứ như Việt Nam khước từ dân chủ, tạo ra sự đối lập Việt Nam với phần còn lại của thế giới, khiến Việt Nam mất hết bạn bè.
Tôi không nghĩ một cơ quan ngôn luận của Đảng lại đi làm cái việc hại Đảng như thế. Ban biên tập nào, biên tập viên nào để lọt bài viết sai trái và yếu kém về lý luận như trên cần phải kiểm điểm, xử phạt.
Trân trọng kính chào ông Tổng biên tập.
Đào Tiến Thi

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Trần Mạnh Hảo - Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời



Trần Mạnh Hảo

1- CHUYỆN THẬT VỀ NHỮNG CÂU HỎI NGƯỢC ĐỜI

Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:
1- Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mác-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx?
2- Trong một lần trả lời con gái, K. Marx cho rằng HOÀI NGHI là phẩm chất đẹp nhất của người trí thức. Lời dạy của Marx còn đúng hay không nếu người trí thức (cụ thể là nhà văn) hôm nay có lúc rất hoài nghi sự lãng đạo của đảng?
3- Theo chúng tôi nghĩ, căn cứ vào chủ nghĩa Marx, thì câu khẩu hiệu trong Hội trường thành uỷ: “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm” là một khẩu hiệu chống Mac-xit? Vì Marx bảo lúc tới chủ nghĩa đại đồng, sẽ không còn giai cấp, tức không còn đảng của các giai cấp, nghĩa là đảng cộng sản vĩ đại cũng không còn! Vậy ta hô đảng cộng sản muôn năm có phải là không bao giờ muốn có chuyện tiến lên chủ nghĩa cộng sản, chuyện ấy chỉ là bánh vẽ; cầm bằng như ta hô: xã hội loài người có giai cấp muôn năm hay không?
4- Marx dạy rằng: kinh tế quyết định chính trị, cơ sở hạ tầng quyết định ý thức thượng tầng; thế nhưng hiện nay, đảng ta đã làm ngược lời Marx dạy. Nền kinh tế của ta hiện nay là nền kinh tế thị trường đa nguyên, nếu theo Marx thì nền chính trị của ta hiện nay cũng phải là nền chính trị đa nguyên mới đúng quy luật, sao ta vẫn giữ chính trị nhất nguyên là sao? Việc khôi hài hiện nay của đất nước ta là đảng cộng sản, đảng của giai cấp vô sản có nhiệm vụ phải đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, lại đang ra sức xây dựng chủ nghĩa tư bản, rước tư bản nước ngoài vào để bóc lột công nhân? Việc cơ sở hạ tầng là nền kinh tế tập trung = xã hội chủ nghĩa đã bị kinh tế thị trường đập tan, sao trên ý thức thượng tầng vẫn trưng bảng hiệu định hướng xã hội chủ nghĩa, có phải là đầu voi tư bản vẫn lòi đuôi chuột xã hội chủ nghĩa = xếp hàng cả ngày hay không?
5- Chủ nghĩa cộng sản đã tự tan rã ngay chính trên quê hương của nó là Liên xô và các nước Đông Âu. Chứng tỏ chủ nghĩa Mác-Lê không thích hợp với “thổ nhưỡng kinh tế – chính trị” của các nước trên. Vậy, Việt Nam là một đất nước nằm ngoài bản đồ của chủ nghĩa Marx, sao ta cứ phải nô lệ mãi vào cái lý thuyết xa lạ kia để làm khổ đồng bào, việc đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội của đảng ta có giống chuyện đảng ta chủ trương phấn đấu đến năm 2020 cả nước sẽ có tuyết rơi trong mùa đông và sông Hồng, sông Cửu Long sẽ đóng băng ngày đông chí vậy?
Chúng tôi còn viết thư gửi các vị lãnh đạo đảng nhiều câu hỏi khác, nhưng hầu như không được trả lời.

2- CHUYỆN GIẢ TƯỞNG VỀ MỘT SỰ THẬT BI HÀI

Ai bảo Marx (Karl) (1818-1883), người Đức gốc Do Thái, cha đẻ của chủ nghĩa xã hội khoa học, còn gọi là chủ nghĩa cộng sản đã chết thì tôi vẫn còn bán tín bán nghi. Những người cánh tả trên thế giới từ giữa thế kỷ thứ XIX đến nay vẫn coi Marx như là Chúa Jesus mới của giai cấp vô sản. Người Do Thái làm nghề thợ mộc (công nhân) Jesus đã bị đóng đinh trên thập giá và chết năm 33 tuổi; nhưng rồi theo các tông đồ của Ngài kháo nhau rằng Chúa đã sống lại và lên trời. Kẻ viết bài này chưa từng là tông đồ của vị “thánh” Marx Do Thái kia, nhưng vẫn tin lời đồn rằng đại triết gia này chết rồi nhưng vừa bí mật sống lại. Và Marx đã sống lại để tới Bắc Kinh và Hà Nội đòi kiện nhà cầm quyền 2 quốc gia này ra tòa án quốc tế.
Khi vừa sống lại, nghe tin Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba lấy học thuyết của mình để cai trị dân, để làm bình phong cho chế độ toàn trị, Marx phẫn nộ vô cùng. Rõ ràng, trong các trước tác của Ngài, Ngài chả nói rõ như ban ngày rằng: phương thức sản xuất châu Á (gồm các nước trong vùng văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập, Châu Phi, Mỹ Latinh da đỏ…, Caribe…) thì Ngài hoàn toàn mù tịt. Chính Marx đã công nhận học thuyết của Ngài chỉ thích hợp với các nước đã có nền tư bản chủ nghĩa vào giữa thế kỷ thứ XIX như: Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Mỹ…Như vậy, các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên đâu có nằm trong bản đồ của chủ nghĩa Marx? Marx ức lắm, toan gầm lên cho cả thế giới rằng: đưa chủ nghĩa Marx vào các nước châu Á là mạo danh, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, đưa chủ nghĩa của ta về áp dụng vào cái chỗ không thể áp dụng, khác nào lấy thuốc chữa tim mạch về chữa bệnh hắc lào? Marx quyết đến bằng được các nước mạo danh Ngài kia để làm cho ra nhẽ.
Sau khi vào mạng Iternet, đọc qua các trang web Talawas. org, Doi-thoai. com, Danchimviet. com…Marx mới biết vài ba nhà nước châu Á treo ảnh mình lên ở khắp nơi, coi mình là ông tổ của chế độ, rồi mặc sức làm ngược lại tất cả các giáo điều của Ngài vốn đã bị thời đại Internet bỏ qua. Ngài dạy trí thức phải hoài nghi, vì hoài nghi là đức tính quý nhất của con người như có lần Ngài trả lời con gái. Thế mà ở Việt Nam hiện nay, ai viết bài hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là có thể bị chế độ bắt liền. Ngài dạy: chủ nghĩa của Ngài nhằm đạt tới tự do cá nhân, nhằm giải phóng con người thoát khỏi sự giả dối của chính trị, thì các nước châu Á mạo danh Ngài kia cấm tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do mít tinh, hội họp, cho chính trị là thống soái và chính trị hoá toàn bộ kiến thức thượng tầng, ngay món thuốc phiện (tôn giáo) cũng bị chính trị hoá mới lạ chứ?
Marx tới Bắc Kinh thuê tắc-xi vào Thiên An Môn, vào tới Đại sảnh đường nhân dân, được mời trà Long Tỉnh Hàng Châu xong, liền bị bị chính quyền của lãnh. tụ Hồ Cẩm Đào trục xuất. Marx quyết định bay tới Hà Nội. Công an Trung Quốc đã báo tin này cho công an Việt Nam. Khi Marx bước xuống sân bay Nội Bài, bèn bị công an bắt liền, xác minh từ người đến giấy tờ, biết đích xác là K. Marx, liền đưa Ngài vào thẩm vấn:
Marx tức lắm hỏi và công an trả lời như sau:
- Ta là ông tổ đẻ ra chế độ của các người, sao các người lại bắt ta?
- Nếu để dân nó biết Marx sống lại tìm tới đây, sẽ mất ổn định chính trị! Ông xui nhân dân hoài nghi, nên dân giờ đến 90% không còn tin tưởng tuyệt đối vào đảng nữa, đó là tội của ông! Ông lại bảo kinh tế nào chính trị ấy. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là kinh tế tư bản, vậy chính trị cũng phải đa nguyên như chính trị tư bản à? Người ta đang hô đảng cộng sản muôn năm, sao ông lại chủ trương cuối cùng khi tới đại đồng cộng sản, đảng cộng sản cũng phải tự triệt tiêu, thế thì làm sao muôn năm được hở ông Marx lẩm cẩm kia? Cái tội lớn nhất của ông là sinh ra biện chứng pháp; tuy là Hegel chủ xướng nhưng ông phát triển thêm và phải chịu trách nhiệm, lúc nào và cái gì cũng phải có đối lập, coi đối lập là phản đề của biện chứng, thậm chí là linh hồn của phép biện chứng. Chính ông xui mấy tên Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Dương Thu Hương, Lữ Phương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Đan Quế, Tiêu Dao Bảo Cự, Phương Nam- Đỗ Nam Hải, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Phạm Quế Dương, Vũ Cao Quận, Nguyễn Chính Kết, Trần Dũng Tiến…đòi đa nguyên đa đảng, đòi đối lập chính trị chứ còn ai, tội ông to lắm ông Marx ạ!
Marx sợ quá run như tên bắn. Hoá ra chế độ nhân danh tên tuổi ta này thua xa cái chế độ tư bản châu Âu thế kỷ thứ XIX. Thời đó, ta sinh ra học thuyết để dùng giai cấp vô sản mà chôn chế độ tư bản. Marx ta lúc đó chính là kẻ thù không đội trời chung của các chế độ tư bản châu Âu và Bắc Mỹ. Nói dại nếu hồi đó các ông Hồ Cẩm Dào, Nông Đức Mạnh, Kim Chung In, Phiden Caxtro mà cầm quyền ở Anh, Đức Pháp, Bỉ thì Marx ta đây và Angels chắc chắn đã bị treo cổ. Marx ta dù từ bỏ quốc tịch Đức, bị chính quyền Đức, Bỉ, Pháp trục xuất nhưng Luân đôn nước Anh là thủ đô của chủ nghĩa tư bản vẫn để ta tư do ra báo, in sách, lập hội lập đảng chống lại tư bản thế giới. Thậm chí, năm 1863 ta đã gửi tác phẩm vĩ đại nhất của ta dùng để chôn chủ nghĩa tư bản là cuốn “Tư bản luận” về in tới 1000 cuốn phát hành tại Hambourg, nước Đức, nơi lệnh trục xuất ta vẫn còn nguyên hiệu lực. Sao chế độ tư bản chúng nó lại tự do quá nhỉ? Còn các chế đột tự xưng là cộng sản thì ngược lại là làm sao? Ta nghe nói đám Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Mai Thái Lĩnh, Bùi Minh Quốc…mới viết mấy điều đơn giản đòi tự do, dân chủ đã bị bắt thì thà rằng thế giới trở lại thế kỷ thứ XIX mà hưởng tự do tư sản như ta và Anghels ngày nào có sướng hơn không?
Nghe nói sau rồi công an Việt Nam bí mật đưa ông K. Marx đi đâu không rõ. Chuyện về một nền chính trị ngược đời sẽ còn xin kể tiếp sau để hầu bạn đọc và xin các nhà lý luận trong nước và nước ngoài chỉ giáo, chứ đừng đem công an ra để “đối thụi” với nhân dân.
Sài gòn 10-2005
T. M. H.

http://danluan.org/tin-tuc/20121111/tran-manh-hao-chuyen-that-nhu-dua-ve-mot-nen-chinh-tri-nguoc-doi

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Hồng Ngọc - Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị

Hồng Ngọc
Cả thế giới nín thở theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Thậm chí rất nhiều người trong số đó thiếu sự quan tâm thật sự với cuộc bầu cử ngay trên đất nước mình! Liệu đó có phải là điều kỳ lạ?

Dân chủ và bầu cử

Dân chủ, hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy từ nơi mà khái niệm này được sinh ra – nhà nước Athens thế kỷ 4-5 trước Công nguyên – có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Từ dân chủ trong tiếng Việt là từ Hán Việt, có thể hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa chiết tự của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong đời sống, chúng ta nôm na hóa nó thành “dân làm chủ”.
Hầu như tất cả các chế độ xã hội trong lịch sử theo thế quyền đều tự cho mình là dân chủ. Vì ai nắm quyền lực cũng đều tự xưng rằng mình nắm quyền là chính đáng. Nếu không nhân danh thần quyền (nắm quyền theo ý Chúa hoặc ý Trời), thì tất nhiên là phải theo ý nguyện của nhân dân.
Nhưng làm thế nào để quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, để dân thật sự làm chủ thì lại là cả một hệ thống triết lý và tổ chức chính trị.
Trong hình thức lý tưởng, dân chủ nghĩa là tất cả mọi người cùng thảo luận, cùng biểu quyết để ra quyết định chung cho cộng đồng, chính là dân chủ trực tiếp. Nhưng trong thực tế nhân loại, “sân khấu” đông nhất để tụ họp chỉ có chừng 100 ngàn chỗ ngồi, là vài sân vận động lớn nhất thế giới chứ không phải là các quảng trường chính trị. Nếu các quảng trường có tới 100 ngàn chỗ có thể ngồi, thì đó chỉ là nơi tụ họp để biểu tình chứ không phải có chức năng thảo luận và biểu quyết, vì không thể tổ chức và điều phối cho 100 ngàn người cùng thảo luận.
Lịch sử hiện đại lại không có vị thế cho quốc gia dưới 100 ngàn dân. Vì thế, dân chủ trực tiếp ở quy mô quốc gia là không tồn tại. Hình thức thay thế khả dĩ nhất là dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện, ở đó, người dân bầu ra các đại biểu đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định chung cho cộng đồng. Đó là các dân biểu. Trong các chế độ theo mô hình Tổng thống như nước Mỹ, người dân còn trực tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các dân biểu sẽ thảo luận và ra quyết định về luật và chính sách. Trong các chế độ theo mô hình Nghị viện, các dân biểu còn bầu chọn ra người đứng đầu cơ quan hành pháp.

Bầu cử và không khí chính trị

Như vậy, bầu cử chính là hành vi quan trọng nhất trong một chế độ dân chủ. Vì nó là điểm mấu chốt cho việc người dân được làm chủ, trong mô hình dân chủ gián tiếp, khi người dân chọn ra những người đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định đời sống chung của cộng đồng.
Nhưng tổ chức bầu cử như thế nào để người dân được lựa chọn đúng người mà họ muốn làm đại diện cho mình là việc quan trọng không kém.
Thứ nhất, cuộc bầu cử phải bảo đảm rằng nó tạo cơ hội cho tất cả các ứng viên có ý nguyện đại diện và phục vụ cho cộng đồng. Một cuộc bầu cử phản dân chủ thì tìm cách loại những ứng viên tiềm năng bằng cách đặt thêm điều kiện, hoặc ngụy tạo các lý do để loại bỏ bớt ứng viên. Thường thì mọi sự sắp đặt loại bớt ứng viên đều có bàn tay của chính quyền đương nhiệm, vì con người có khuynh hướng níu kéo quyền lực. Để loại bỏ can thiệp của chính quyền đương nhiệm, cách duy nhất là phải có Ủy ban bầu cử độc lập.
Thứ hai, cử tri phải biết ứng viên là ai. Không thể chỉ là hồ sơ khô khốc về học vị, tiểu sử chính trị, và chức vụ hiện tại. Chức vụ hiện tại đương nhiên là lợi thế cho các quan chức đương nhiệm. Hầu hết các nền dân chủ quy định bắt buộc ứng viên phải cư trú ở địa bàn tranh cử, và nhiều khi công khai cả tài sản, thu nhập, gia đình, bên cạnh quá trình công tác chính trị và cộng đồng. Đó vừa là cách để cử tri hiểu rõ ứng viên là ai, không chỉ trên phương diện chính trị mà cả trên phương diện con người – cơ sở của lòng tin vào ứng viên để lựa chọn.
Thứ ba, khuynh hướng chính trị của ứng viên. Các đảng phái chính trị tự nó đã có các khuynh hướng chính trị, thông qua cương lĩnh. Cử tri không chỉ bầu cho ứng viên – con người cụ thể mà còn bầu cho chính đảng đó (điều này có thể khác ở những nơi một đảng nắm vai trò lãnh đạo, bởi họ không cần cạnh tranh).
Thứ tư, dự án của ứng viên hoặc chính đảng. Đó là những mục tiêu, chương trình hành động của ứng viên hoặc chính đảng. Cử tri chỉ có thể lựa chọn đúng ứng viên đại diện cho mình khi mối quan tâm của cử tri chính là mục tiêu của các ứng viên. Và mục tiêu đó chỉ thuyết phục được cử tri khi nó có kế hoạch, có biện pháp để thực hiện một cách khả thi.
Chính khuynh hướng và dự án chính trị làm cho bầu cử thoát khỏi ý nghĩa như là sự trình diễn hình ảnh nhân vật, hay cuộc thi diễn xuất trên sân khấu điện ảnh. Chúng ta vẫn hay nhìn nhận cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ như cuộc trình diễn của Hollywood, nhưng chưa từng có siêu sao điện ảnh nào đắc cử Tổng thống Mỹ. Chỉ có một người duy nhất từng là diễn viên, nhưng lại là diễn viên hạng hai.
Cuộc thảo luận về các khuynh hướng, dự án chính trị chính là yếu tố làm nóng không khí chính trị của các xã hội dân chủ. Thông qua thảo luận, người dân hiểu rõ hơn về tổ chức chính trị, sự vận hành của hệ thống chính trị, về các đảng phái, về các ứng viên, về dự án và tính khả thi của dự án. Nếu bản thân người dân không hiểu, họ sẽ được “hỗ trợ” từ đối thủ chính trị của ứng viên. Vì khi cuộc bầu cử là cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái, nếu một đảng chỉ ra điểm yếu của đối thủ thì đảng đó có thêm cơ hội thắng cử. Khi cử tri hiểu rõ những điều đó, lá phiếu của họ sẽ chính xác hơn.
Tất nhiên, cuộc thảo luận đó không thể thiếu các cơ quan truyền thông. Nó không chỉ bộc lộ quan điểm của mình mà còn là diễn đàn để các bên thảo luận. Dù với vai trò nào, truyền thông có khả năng tác động tới kết quả bầu cử. Nếu truyền thông nằm trong tay chính phủ đương nhiệm, về nguyên tắc khó có một cuộc bầu cử công bằng.
Một cuộc bầu cử đáp ứng đủ những yêu cầu trên đây cũng là một cuộc bầu cử tốn kém về thời gian và tiền bạc. Như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới đây tiêu tốn tới 6 tỷ USD.
Về bản chất, số tiền đó không mất đi, mà chỉ là sự luân chuyển giữa các thành phần của xã hội Mỹ. Đổi lại, nó giúp người dân Mỹ lựa chọn đúng ứng viên đáp ứng mong mỏi của mình trong một cuộc cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng viên.
Đó là lý do mà các cuộc bầu cử ở Mỹ luôn được hâm nóng trong thời gian dài, được theo dõi sát sao trong thời gian bầu cử bởi ngay cả những cư dân ngoài nước Mỹ.
Vì không ai biết trước ý chí của nhân dân, dù có vô số cuộc thăm dò xã hội học. Nó trái ngược với những cuộc “bầu cử” mà người chiến thắng, chính đảng chiến thắng được biết trước, thậm chí được sắp đặt trước, nên tất nhiên cũng xứng đáng được quan tâm hơn.
Hồng Ngọc

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

TỐNG VĂN CÔNG

Hầu chuyện Trần Xuân Bách:
“Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc”
 
Tống Văn Công

Cuối tháng 9 năm 1989, tôi từ Sài Gòn ra, vừa đến trụ sở báo Lao Động (51 – Hàng Bồ, Hà Nội) thì cô Phạm Thị Châu, trưởng phòng hành chính đến gặp. (Cô Châu hiện nay là cán bộ báo Dân Trí.) Cô trao tấm danh thiếp của anh Trần Xuân Bách gửi cho tôi và háo hức kể: Xe đỗ trước cơ quan, bác ấy đi vào, nói “Tôi xin gặp anh Tống Văn Công”. Em trả lời: “Thưa bác, anh Công về Sài Gòn. Hiện đang có mặt hai phó tổng biên tập là anh Huy Đan và Phạm Văn Nhàn. Bác có thể gặp anh nào ạ?”.  Bác ấy mở cặp lấy cac vi dít đưa cho em, nói: “Khi nào anh Công ra, đồng chí đưa giùm tôi nhé, nói là tôi đang đợi anh ấy gọi”. Từ lâu tôi đã được ba người bạn có dịp gần gũi anh Trần Xuân Bách là nhà văn Nguyễn Khải gần anh khi còn làm báo quân khu 3 thời chống Pháp, dịch giả Lê Minh Đức gần anh ở Ban Dân vận TƯ và  Đinh Gia Bảy ủy viên Đảng đoàn, ủy viên Ban thư ký Tổng Liên đoàn Lao động VN từng làm việc dưới quyền của anh Bách lúc giúp bạn ở Campuchia, kể  nhiều chuyện về anh Bách, một người tài đức song toàn. Tôi cũng được đọc nhiều bài viết của anh, rất hâm mộ, nhưng chưa có dịp gặp, không ngờ tôi lại được anh tìm! Trước khi vào Sài Gòn, tôi đã dự hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (khóa 6), nên cảm nhận việc anh Trần Xuân Bách đến tìm là điều quan trọng.
Xin nhắc lại một số kết luận của Nghi Quyết TƯ 7:
Về tình hình thế giới:
“Công cuộc cải tổ, cải cách, đổi mới ở một số nước xã hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu nhất định, nhưng ở một số nước gặp khó khăn gay gắt, có nước chủ nghĩa xã hội đang đứng trước thách chức lớn. Lợi dụng tình hình khó khăn trên đây ở một số nước xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ mở cuộc phản kích quyết liệt vào chủ nghĩa xã hội, bằng những thủ đoạn rất xảo quyệt: Răn đe về quân sự; cổ vũ chủ nghĩa đa nguyên chính trị; dùng kinh tế khuyến khích việc cải cách theo hướng phát triển kinh tế tư nhân, thị trường tự do tư bản chủ nghĩa.”
“Trong nước…những khó khăn về kinh tế và xã hội đã và đang bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: Các lực lượng bên ngoài đang tập trung đả kích, xuyên tạc Đảng ta không mạnh dạn cải cách chính trị, hạn chế dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tự do sáng tác, phê bình”.
Trong bốn khuyết điểm dẫn đến tình hình trên, có: “Buông lỏng công tác tư tưởng, thiếu tinh thần chiến đấu chống những tư tưởng, quan điểm lệch lạc, những hành động và lời nói sai trái.”
Nghị quyết nhấn mạnh những nguyên tắc và chính sách: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”…
Như vậy, anh Trần Xuân Bách đang là nhân vật có “vấn đề”!
Sau khi cô Châu rời khỏi phòng, tôi gọi điện thoại ngay cho anh Trần Xuân Bách. Giọng anh rất vui: “Bảy giờ tối, tôi đợi anh nhé!”. Tôi đáp: “Tôi muốn cùng anh Phạm Văn Nhàn phó tổng biên tâp đến thăm anh?” Anh Bách rất vui vẻ: “Ồ, càng nhiều anh em càng vui!”
Tôi không muốn một mình đến anh Bách vì đã có kinh nghiệm qua việc nhà văn Nguyên Ngọc gửi bài cho báo, tôi chưa đọc, nhưng cơ quan an ninh đã cử cán bộ đến yêu cầu được đọc trước! Tôi kể chuyện này với phó Tổng biên tập Phạm Văn Nhàn. (Hiện nay, anh Nhàn ở khu nhà tập thể báo Lao Động, quận Cầu Giấy.) Anh Nhàn nói: “Anh ấy bảo càng nhiều anh em càng vui, vậy ta rủ thêm Lưu Văn Hân, vì Hân quen thân với bên vợ anh Bách”. Tôi gọi điện rủ, anh Hân rất vui vẻ nhận lời. (Anh Lưu Văn Hân lúc ấy là vụ trưởng Vụ báo chí, Bộ Văn hóa – Thông tin, anh Trần Hoàn là Bộ trưởng.)
Ba chúng tôi đến biệt thự của anh Bách trên đường Phan Đình Phùng bằng chiếc u-oat cùa báo Lao Động do tài xế cựu chiến binh Nguyễn Văn Tiến lái. Có vài người mặc thường phục đứng trên vỉa hè dòm ngó. Tôi báo với người bảo vệ là chúng tôi được anh Bách hẹn. Anh bảo vệ gọi điện thoại vào nhà xin ý kiến. Tôi cứ tưởng anh Bách sẽ cho người giúp việc ra đón chúng tôi, không ngờ anh đích thân chạy ra cổng. Tôi nói, “Chúng tôi đến quá một người!” Anh Bách cười vui “Cám ơn các anh, tôi rất vui !” Anh đưa chúng tôi lên lầu. Chị Bách chờ sẵn, mời chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn kê sát tường. Chị pha cà phê, gọt táo và cùng ngồi với chồng tiếp khách. Thấy bên cạnh tấm lịch treo tường có kẹp bài thơ, ký Bách Xuân, tôi hỏi đùa: “Muốn xin anh bài thơ này đăng trang văn nghệ của báo?”. Anh nhìn chị, cười đáp: “Thơ mình chỉ dành riêng cho mộĩ bạn đọc này thôi.” Có lẽ, chị Bách nghĩ rằng mấy ông khách thấy chị quá trẻ so với anh, nên đã vui vẻ kể: “Hồi em mới lấy anh ấy, các bạn cứ trêu, sao lấy ông chồng quá đát vậy? Em trả lời, nhưng tâm hồn anh ấy rất trẻ!”. Sau mấy chuyện vui, tôi kể cho anh Bách nghe về lớp nghiên cứu Nghị quyết TƯ 7 của cán bộ cốt cán toàn quốc trước đây hơn một tuần. Anh Bách nghe rất chăm chú.
Lớp nghiên cứu này do ông Đào Duy Tùng Ủy viên Bộ chính trị phụ trách khối tư tưởng văn hóa thuyết trình. Ông nghe phản ánh ý kiến học viên ở các tổ thảo luận, tổng kết đợt học và giải đáp thắc mắc. Sau khi nghe ông Tùng giảng ở hội trường, Ban Tổ chức lớp học chia học viên theo ngành công tác vào các tổ thảo luận. Tôi dự thảo luận ở tổ báo chí, gồm các tổng biên tập, báo, chí, đài, nhà xuất bản ở Trung ương. (Có lẽ các tổ viên ngày ấy chỉ mỗi nhà thơ Hữu Thỉnh còn có mặt trong guồng máy hiện hành.) Tổ trưởng hướng dẫn thảo luận là anh Thái Ninh, phó trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương. (Đến Đại hội 7, anh Thái Ninh là Trưởng ban TTVH TƯ, anh Hữu Thọ là Phó trưởng ban thường trực). Khi thảo luận câu hỏi “Vì sao Đảng ta không chấp nhận đa nguyên chính trị?”, anh Bùi Tín, phó Tổng biên tập báo Nhân Dân xin phát biểu. Bùi Tín cho biết, anh rất lúng túng khi bị nhiều đồng chí đảng viên các đảng bạn ở phương Tây hỏi vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam lại không chấp nhận đa nguyên. Theo Bùi Tín, bản chất cuộc sống là đa nguyên, thực tế Việt Nam cũng đang có những yếu tố đa nguyên: Bên cạnh Đảng Cộng sản có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội; Mặt trận Tổ quốc gồm có nhiều tổ chức Nông dân, Công đoàn, Thanh niên, Phụ nữ…Mỗi giới có tờ báo nói tiếng nói của mình. Phải đa nguyên mới thực sự dân chủ… Anh Bùi Tín nói hơn 30 phút. Cả tổ im lặng lắng nghe. Tổ trưởng Thái Ninh ghi ghi chép chép, không tỏ ra sốt ruột. Không ngờ hôm sau, khi tổng kết và trả lời thắc mắc, ông Đào Duy Tùng đã gay gắt phê phán: “Thật đáng chê trách, tại hội nghị này, gồm những cán bộ tuyên huấn cốt cán của Đảng, lại có một đồng chí nồng nhiệt cổ vũ đa nguyên chính trị! Đồng chí đó không biết rằng, đa nguyên là luận điệu mị dân của các chính trị gia tư sản ?  Bọn chúng gồm những tập đoàn tài phiệt, cần có đa nguyên để cạnh tranh với nhau. Giai cấp công nhân có sứ mệnh độc quyền lãnh đạo cách mạng, chỉ cần liên minh chiến lược với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức cách mạng. Chủ nghĩa xã hội thực hiện tập trung dân chủ, phải chống đa nguyên. Hôm nay đòi đa nguyên, rồi ngày mai sẽ đòi đa đảng, phải không?”
Anh Bách trầm ngâm, rồi nói: “Chúng ta đã thực hiện đa nguyên kinh tế, vậy phải thực hiện đa nguyên chinh trị, bước tới bằng hai chân mới cân bằng, không bị vấp váp”. Anh hỏi thêm về Bùi Tín, nhưng tôi chỉ gặp anh Bùi Tín hai lần mà cả hai lần đều cùng là khách được mời ăn cơm. Lần đầu tháng 5-1975, ở Sài Gòn anh Phước Sanh mời; lần thứ hai ở Hà Nội, nhà thơ Hải Như mời Bùi Tín, bác sĩ Vân B và tôi, chỉ ít lâu trước khi anh Bùi Tín đi họp báo Nhân Đạo và ở lại Pháp. Lúc ông Đào Duy Tùng chì chiết, tôi ngồi ở hàng ghế ngay sau lưng anh. Anh hai tay chống cằm, mớ tóc dài rũ xuống hai vai.
Hơn 10 giờ khuya, anh Bách tiễn chúng tôi ra tận cổng. Trước khi chia tay, tôi đề nghị: Bất cứ lúc nào, anh rảnh, tôi xin mời anh đến nơi tôi ở, số 14 Trần Bình Trọng, đối diện với Bộ công an. Tôi muốn được anh giải đáp cho một số câu hỏi. Và tôi gợi ý: Anh nên cho dừng xe ở Nguyễn Du, rồi đi bộ vào cổng, tôi sẽ đón bên trong. Kể ra cũng buồn cười, đón ông ủy viên Bộ chính trị mà phải lén lút như quan hệ với kẻ gian! Hồi đó, tôi vẫn nghĩ nơi ở của mình kín đáo lắm, nên đã từng tiếp đón nhiều bạn bè có lý lịch mà phía an ninh coi là không được trong sáng như Nguyễn Kiến Giang, Lê Đạt, Dương Tường, Phạm Thị Hoài…Mãi sau này, tôi mới biết là mọi việc xảy ra ở báo Lao Động đều có trong hồ sơ của cơ quan an ninh! Biết đâu chuyện tôi sắp kể ra đây cũng không phải là ngoại lệ!
Chỉ vài hôm sau, anh Bách hẹn đến, từ hôm đó tôi may mắn được hầu chuyện anh. Tôi đã đặt những câu hỏi với tư cách một nhà báo cách mạng mong muốn tìm thấy lộ trình đi tới tự do dân chủ cho dân tộc. Rất tiếc vì nhiều lý do, ý kiến tâm huyết của anh, một nhà cách mạng, một trí thức lớn nhất của Đảng Cộng sản VN mà tôi ghi chép nhiều buổi, đã không thể phổ biến đúng lúc. Lý do là vì nền “báo chí nói tiếng nói của Đảng” không cho phép, nhưng lý do chính mà tôi phải nhận là bởi sự hèn kém của mình. Trong phần hồi ức này, tôi xin ghi lại một số câu hỏi và giải đáp của anh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà vẫn đang còn nguyên giá trị thời sự trong tình hình hiểm nghèo của đất nước trước họa ngoại xâm, và nội xâm, đang rất cần dân chủ hóa để tăng nội lực của dân tộc. Và đây cũng là món nợ ân tình đối với anh, nhiều năm nay lòng tôi luôn bứt rứt. 
HỎI: Tháng 6-1988, Nghị quyết TƯ 5 cho rằng khuyết điểm nghiêm trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng là “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ”. Nghị quyết cho rằng “mở rộng dân chủ, đi đôi với tăng cường kỷ luật”, và phải “chống những mưu đồ lợi dụng dân chủ và công khai để chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”. Đến tháng 3-1989, Nghị quyết TƯ 6 nhắc lại phải “mở rộng dân chủ”, “dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật”. Tháng 8-1989, Nghị quyết TƯ 7 kết luận: “Xây dựng và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị”.
Những kết luận nói trên, cho thấy “dân chủ” như một khái niệm rất mơ hồ, có thể thu hẹp lại, hoặc mở rộng ra. Nhưng mở rộng ra thì phải kèm với “tập trung”, với “kỷ luật”, nếu không thì sẽ xảy ra tình trạng vô chính phủ, hoặc bị bọn phản động có “mưu đồ lợi dụng dân chủ, công khai, chống lại sự nghiệp của Đảng và nhân dân”?
ĐÁP: Dân chủ không hề có chỗ cho thứ tự do vô chính phủ nảy nở. Chế độ dân chủ thiết lập trên cơ sở một bản Hiến pháp được xây dựng từ ý chí tự do của nhân dân lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa . Hiến pháp quy định thể thức bảo đảm tổng tuyển cử tự do, không phân biệt khuynh hướng chính trị, quy định cách thức hoạt động của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, bảo đảm các quyền tự do của con người và sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Tuyên ngôn độc lập nước ta, đã nhắc lại Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, nói đến các quyền tự do của con người mà “Tạo hóa cho họ”. Dân chủ là thể chế hóa các quyền tự do ấy. Cho nên dân chủ là quyền lực của dân, với tư cách là con người tự do. Dân chủ không phải do lòng tốt của những người lãnh đạo muốn ban ơn cho dân, thấy thuận lợi thì mở rộng, thấy bất tiện thì thu hẹp .
Đại hội 6 kết luận “lấy dân làm gốc”. Dân chủ sẽ khơi động trí tuệ toàn dân tộc, “gốc” sẽ ngày càng vững mạnh, ngăn chặn quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm. Chế độ dân chủ không có chỗ cho những ai muốn lợi dụng, bè phái. Chỉ có chế độ độc đoán, quan liêu, khép kín mới là đất tốt cho những kẻ xấu lạm dụng quyền lực làm những điều phi pháp.
HỎI: Chế độ dân chủ như vừa miêu tả ở trên có trái với “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mà Nghị quyết TƯ 7 kêu gọi xây dựng và phát huy?
ĐÁP: Chúng ta đã chọn mô hình giáo điều, lai ghép chủ nghĩa xã hội Stalin với chủ nghĩa xã hội Mao Trạch Đông. Liên Xô và các nước Đông Âu đang lâm vào khủng hoảng bởi mô hình Stalin, vi phạm dân chủ, duy ý chí, quan liêu, đặc quyền, đặc lợi. Thế giới xã hội chủ nghĩa phải cải tổ, đổi mới, giải quyết những mâu thuẫn, phá vỡ cái cũ, đạt tới các tiêu chí của thời đại là: dân chủ, khoa học, nhân đạo, hiện đại. Xu thế chủ yếu là chuyển sang sở hữu tư nhân, kinh tế hàng hóa, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.
Chúng ta đã đổi mới kinh tế, thực hiện sở hữu tư nhân, kinh tế thị trường. Đã đến lúc phải đổi mới chính trị, dân chủ hóa xã hội, từng bước thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà Marx và Engels đã đề ra trong Tuyên ngôn Cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Không đổi mới chính trị nhịp nhàng với đổi mới kinh tế thì đến một lúc nào đó sự phát triển kinh tế cũng sẽ bị chựng lại, bởi những rào cản quan liêu, tham nhũng, hạn chế sáng kiến. Đổi mới kinh tế là thực hiện đa nguyên kinh tế; kinh tế nhiều thành phần sẽ làm cho xã hội có sự phân tầng; mỗi giai tầng có quyền lợi, nguyện vọng khác nhau, từ đó nảy sinh đa nguyên chính trị. Đổi mới chính trị là từng bước chấp nhận đa nguyên chính trị song song với đa nguyên kinh tế, đúng như Marx, Engels: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. (Lời tựa cho Tuyên ngôn của ĐCS bản tiếng Đức, 28-6-1883).
Từ một xã hội khép kín, một quốc gia đóng cửa, chúng ta khởi xướng đổi mới, mở cửa, làm bạn với tất cả các nước. Vậy thì trong nước cũng phải là một xã hội mở, chấp nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận, nhiều tiếng nói có quan điểm khác biệt đối thoại, thương thảo, quyết định thuộc về đa số, nhưng thiểu số được tôn trọng và bảo vệ. Nhà nước bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền con người và quyền công dân theo Hiến pháp, không được ban hành luật lệ vi hiến để hạn chế các quyền ấy. Đảng lãnh đạo, cầm quyền, nhưng quyền lực thuộc về nhân dân. Do đó, Đảng phải nằm trong chứ không nằm ngoài và không được đứng trên xã hội. 
HỎI: Chúng ta có sợ đa nguyên chính trị sẽ làm suy yếu Đảng Cộng sản Việt Nam và cuối cùng làm mất quyền lãnh đạo? Bởi vì chấp nhận đa nguyên chính trị thì phải thực hiện các quyền tự do, trong đó có quyền lập hội, từ đó xuất hiện Đảng đối lập có cương lĩnh cạnh tranh với Đảng Cộng sản?
ĐÁP: Đó chính là sự ngộ nhận của những ai có thói quen độc quyền chân lý, theo chủ nghĩa giáo điều. Xu thế thời đại là tự do, dân chủ. Cách mạng khoa học kỹ thuật, bùng nổ thông tin, giao lưu quốc tế làm cho xu thế đó chuyển động rất nhanh chóng và có tính dây chuyền. Không ai có thể bưng bít thông tin, ngoảnh mặt trước đòi hỏi của nhân dân, ngăn chặn sự vận động tất yếu của cuộc sống. Bản chất của cuộc sống là đa nguyên. Đổi mới chính là thuận theo bản chất cuộc sống xã hội vốn mang tính đa nguyên cả về kinh tế, chính trị, văn hóa. Trên kia đã nói, Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội, có nghĩa là thế nào? Đổi mới chính trị, trước hết Đảng phải tự đổi mới mình, phải trở thành Đảng dân tộc, kết tinh truyền thống dân tộc và trí tuệ thời đại. Đảng phải thực hiện dân chủ mạnh mẽ từ trên xuống dưới, từ Bộ chính trị trở đi.
Đảng không bao biện lấn sân làm thay nhà nước, không duy trì chế độ “đảng trị”, “toàn trị”. Nhà nước là công cụ của dân, chứ không phải là công cụ của Đảng, không phải cấp trên của dân. Nhà nước quản lý theo luật và bằng chính sách chứ không làm thay doanh nghiệp. Kế hoạch nhà nước nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường. Ngược lại, nếu duy trì tình trạng như hiện nay thì không phải làm cho Đảng, cho Nhà nước vững mạnh mà là tạo môi trường xã hội dung dưỡng độc đoán, lạm quyền, tham nhũng làm thoái hóa Đảng và mục ruỗng Nhà nước.
Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Trong Hệ tư tưởng Đức, Marx và Engels cho rằng “Hình thức thương mại, bởi lực lượng sản xuất đang có quyết định ở một giai đoạn lịch sử và trở lại quyết định lực lượng sản xuất, đó là xã hội dân sự” và “Xã hội dân sự bao gồm toàn bộ thương mại vật chất của các cá nhân ở một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất.” Hai ông cho rằng, xã hội dân sự tồn tại ở mọi thời đại với tư cách tổ chức xả hội trực tiếp bắt nguồn từ sản xuất và thương mại, đồng thời tạo thành nền tảng của nhà nước và mọi kiến trúc thượng tầng tinh thần khác. Các chế độ độc tài, phát xít Hitler, Mussolini thực hiện chế độ toàn trị, xóa bỏ xã hội dân sự đã bị thất bại. Mô hình xô viết Stalin cũng xóa bỏ xã hội dân sự là nguyên nhân đưa tới quan liêu hóa, khủng hoảng xã hội. Tình trạng đó chúng ta phải khắc phục. Nhiều năm qua các đoàn thể quần chúng đều bị chính trị hóa, hành chính hóa, không đại diện quyền lợi cho đoàn viên, hội viên, hạn chế sáng kiến của họ, quan trọng hơn là triệt tiêu sự góp ý thẳng thắn của họ đối với đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực hiện quyền tự do lập các hội, đoàn, các câu lạc bộ, hoạt động theo hướng ích nước lợi nhà, tương thân, tương ái, tự trang trải về tài chính, đó là chẳng những đáp ứng nguyện vọng chính đáng của quần chúng mà còn khôi phục xã hội dân sự, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền, làm lành mạnh kinh tế thị trường.
Trong môi trường dân chủ, thượng tôn pháp luật, Đảng Cộng sản VN, cũng như mọi tổ chức và cá nhân có điều kiện để phát triển lành mạnh. Đảng Cộng sản VN có một quá trình lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khởi xướng đổi mới, nay lại mạnh mẽ tự đổi mới mình để trở thành Đảng của dân tộc, không dùng quyền lực thay cho năng lực, trí tuệ. Dân chủ đưa Đảng vào lòng dân tộc. Liệu có Đảng đối lập nào đưa ra cương lĩnh trái với lợi ích dân tộc mà giành được lòng dân đối với Đảng Cộng sản? Chỉ có làm ngược lại, không chịu đổi mới chính trị, cố giữ thể chế độc quyền, trong khi xã hôị đã chuyển sang đa nguyên về kinh tế, đa nguyên thành phần xã hội, đa nguyên tư tưởng, văn hóa thì như vậy không khác nào đặt Đảng trong tình thế của một cây cổ thụ đứng đơn độc trước bão tố!
HỎI: Có nên duy trì cách chỉ đạo báo chí của Ban Tư tưởng -Văn Hóa TƯ Đảng như hiện nay? Thực dân Pháp đã từng chấp nhận quyền tự do báo chí đối với nhân dân nước Việt Nam thuộc địa. Chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có hai lần thực hiện tự do báo chí, lần đầu sau Cách mạng tháng Tám cho đến toàn quốc kháng chiến, lần thứ hai sau 30-4-1975 với báo tư nhân Tin Sáng cho đến tháng 6 năm 1981. Cả 2 lần ấy, báo chí tư nhân đều có những đóng góp rất tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Đổi mới chính trị, phải chăng đã đến lúc chuyển tự do báo chí từ quyền “tự do của tập thể” sang quyền “tự do của mỗi người” như Marx, Engels nói, như Nguyễn Ái Quốc đòi hỏi? Trong sách Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc viết: “Tôi gọi báo tức là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như chúng ta đã thấy ở châu Âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ báo do chính quyền lập ra”. Tại sao chúng ta không thực hiện ước nguyện của Hồ Chí Minh từ năm 1919 về quyền tự do báo chí trong bản yêu sách gửi Hội nghị Hòa bình Versailles?
ĐÁP: Ngày 24 tháng 9 năm 1982, Việt Nam đã ký kết gia nhập Công ước về các quyền dân sự và chính trị. Công ước này có quy định quyền tự do ngôn luận: Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; được tự do ngôn luận bao gồm tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến bằng các hình thức tuyên truyền miệng, viết ra, in, tự do sáng tạo các hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng…
Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên cam kết không hạn chế hoặc hủy bỏ những quyền tự do có tính phổ biến của nhân loại đã được quy định ở đây. Nhà nước ta sẽ phải sớm sửa đổi luật báo chí, luật lập hội, thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội như các quốc gia dân chủ trên thế giới.
Cuối năm 1989 anh Trần Xuân Bách có bài phát biểu “Chủ nghĩa xã hội thật sự là gì?”. Nội dung bài ấy tương tự những điều anh trả lời trên đây. Nhiều người cho rằng anh Trần Xuân Bách chưa bao giờ nói đến “đa đảng”. Thật ra chấp nhận đa nguyên chính trị tức là chấp nhận sự có mặt của các tầng lớp, các nhóm có lợi ích khác nhau, có quan điểm chính trị khác nhau, cùng tồn tại, hợp tác và đấu tranh. Chấp nhận đa nguyên chính trị tức là đã chấp nhận đa đảng sẽ diễn ra ngay sau đó.
Dịp Tết 1990, vài tháng trước khi bị kỷ luật ra khỏi Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng, anh Trần Xuân Bách có sáng tác bài thơ sau đây. 
 BÀI THƠ KHAI BÚT 1990
 
Ngày xuân nhớ cụ Tú Xương,
Cố nhân chính trực, đồng hương nghĩa tình.
 
Lẳng lặng mà nghe tiếng nói dân.
Lấy dân làm gốc phải nghe dân.
Trí khôn thiên hạ không hề thiếu.
Chỉ sợ người ngu thích kẻ đần.
Nhà thơ Hải Như đề nghị thay chữ “mình” cho chữ “người” ở câu cuối. Anh Bách tiếp thu nhưng bảo, lấy làm tiếc vì đã phổ biến cho nhiều bạn bè.
Chiều thứ 5, ngày 22 tháng 3 năm 1990, anh Bách gọi điện bảo tôi, 7 giờ tối đến nhà anh, có chuyện rất cần biết. Cả ba anh em, Lưu Văn Hân, Phạm Văn Nhàn và tôi cùng đến. Trên lề đường trước nhà anh có nhiều người mặc thường phục đứng trên vỉa hè săm soi số xe. Anh Bách vẫn ra tận cổng đón chúng tôi. Chị Thịnh vẫn vui vẻ pha ca phê, gọt táo mời bạn bè. Anh Bách kể chuyện Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khai mạc từ ngày 12-3. Anh đã bị phê phán rất dữ dội. Anh cho rằng, mình chắc chắn sẽ bị đưa ra khỏi Bộ chính trị và Ban chấp hành Trung ương, thậm chí có ý kiến đòi khai trừ anh ra khỏi Đảng. Tôi tỏ ý băn khoăn, chẳng lẽ lại có thể xảy ra điều tồi tệ đến mức ấy, hoàn toàn trái với tinh thần đổi mới, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật của Đại hội 6? Anh Bách kể:
Một đồng chí trong Bộ chính trị cho rằng, việc làm của đồng chí Trần Xuân Bách đã khiến cho đồng chí, bạn bè hết sức lo âu, còn kẻ thù thì vô cùng mừng rỡ”. Một người đã bị nhận xét tới mức đó thì làm sao có thể còn trong Bộ chính trị, Ban chấp hành TƯ?”. Anh Bách cho biết nhận xét đó không phải là ý kiến cá biệt, quan trọng hơn, đó là quan điểm của tổng bí thư Nguyễn văn Linh. Chỉ có hai ủy viên Bộ chính trị, Nguyễn Cơ Thạch và Võ văn Kiệt cho rằng, từ quan điểm “lấy dân làm gốc”, anh Bách muốn công cuộc đổi mới phải “đi hai chân” để đất nước phát triển và Đảng vững mạnh.
Hôm ấy, chia tay anh chị, chúng tôi buồn rười rượi, dù anh động viên: “Cho dù sắp tới sự nghiệp đổi mới có bị khó khăn hơn. Tuy nhiên, cái gì thuộc về quy luật, xu thế thì nó vẫn cứ đi tới, dù có chậm lại”.
Ngày 27-3-1990 Hội nghị Trung ương lần thứ 8, khóa 6, thông qua Nghị quyết có những nội dung quan trọng như sau:
“Nghị quyết đã chỉ ra tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa đối với nước ta, trước hết là về các mặt chính trị, tư tưởng: Một số người hoài nghi chủ nghĩa xã hội, giảm lòng tin đối với Đảng và nhà nước; một số cán bộ, đảng viên tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm sai lầm về cải tổ, cải cách của nước ngoài một cách máy móc, giáo điều; một số ít phần tử cơ hội bất mãn đang đẩy mạnh hoạt động chống lại sự lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên chính trị, đa Đảng, đòi dân chủ không giới hạn…”
“Hội nghị nhận định: Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đang coi nước ta là một trọng điểm chống phá, ráo riết thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình bằng những thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và quân sự rất thâm độc. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa ta và địch trên phạm vi thế giới, ở nước ta và ba nước Đông Dương đang diễn ra gay gắt, quyết liệt và phức tạp”…
“Việc Bộ chính trị và Ban Bí thư tự phê bình và Trung ương góp ý kiến phê bình Bộ Chính trị, Ban Bí thư được tiến hành một cách nghiêm túc, dân chủ, thẳng thắn, chân thành và thân ái, với tinh thần trách nhiệm và xây dựng, đã góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Trung ương.”
“Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa 6 đã quyết định cách chức Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu”.
Sau khi anh Bách bị cách chức, Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch xin nhận anh về làm cán bộ nghiên cứu của Bộ Ngoại giao. Nhưng lúc này chính cái ghế của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng đang lung lay. Cũng như Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch hiểu rất rõ nguyên nhân suy sụp của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, trái với xu thế thời đại. Nguyễn Cơ Thạch có quan điểm, về đối nội phải dân chủ hóa xã hội, đối ngoại cần mau chóng quan hệ bình thường với Hoa Kỳ và thế giới dân chủ. Trong khi đó, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh và nhiều người trong Bộ chính trị cho rằng phe xã hội chủ nghĩa suy sụp là do các thế lực thù địch đứng đầu là đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại. Do đó, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng phải cầu hòa với Trung Quốc. Trung Quốc dù có tư tưởng bành trướng thì cũng vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa anh em. Để lấy lòng Bắc Kinh, Bộ chính trị đứng đầu là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh loại bỏ Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch một cách vô nguyên tắc, không cho tham gia đoàn cấp cao đi Thành Đô. Sau khi Nguyễn Cơ Thạch bị loại, anh Bách cũng xin nghỉ việc.
Anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật ít lâu thì phó TBT báo Nhân Dân Bùi Tín nhân được cử đi dự họp báo Nhân Đạo, đã trả lời phỏng vấn đài BBC về dân chủ hóa, bị báo Nhân Dân thi hành kỷ luật, và xin tị nạn chính trị tại Pháp. Trong bài “Xa lộ thông tin chỉ còn lề phải” tôi có tỏ ý tiếc “Phải chi anh Bùi Tín tiếp tục nói ở trong nước, dù lời lẽ có nhẹ hơn đôi chút vẫn dễ được đồng bào lắng nghe”. Thời gian trước và sau đó, ở trong nước, có nhiều tác giả với lời lẽ chân thành, thẳng thắn với tư thế của người vừa là nạn nhân vừa là tội đồ, như Nguyễn Kiến Giang (Các tiểu luận: Khủng hoảng và lối ra, Từ duy tân đến đổi mới, Chủ nghĩa Mác – Lê nin còn lại những gì ; Tìm hiểu khái niệm công dân, vv…); Trần Độ với Nhật ký rồng rắn, Nguyễn Hộ với Quan điểm và Cuộc sống... Những bài viết ấy được đảng viên, cán bộ và nhân dân tìm đọc, làm cho những người lãnh đạo bảo thủ lúng túng.
Sau 20 năm nhìn lại, so sánh kết luận của Nghị quyết TƯ 8 (khóa 6) và ý kiến Trần Xuân Bách với thực tế đã diễn ra trên thế giới và trong nước, sẽ không khó đánh giá bên nào đúng bên nào sai.
Tình hình thế giới:
Do duy trì quá lâu mô hình xô viết cho đến ngày sụp đổ đã khiến cho nhân dân các nước Nga và Đông Âu cạn niềm tin đối với các Đảng Cộng sản và cánh tả. Ở Liên bang Nga, suốt 20 năm qua, Đảng cộng sản, tổng bí thư G. Zyuganov chỉ giành được tối đa khoảng 20% số phiếu trong các cuộc bầu cử. Trong khi đó, Đảng nhân dân Campuchia khi chấp nhận “cuộc chơi” đa đảng đã bị “lép vế”, nhưng nhờ giương cao ngọn cờ dân tộc, nay đã giành được thế thượng phong trên chính trường đất nước. Hiện nay, đợt sóng dân chủ lần thứ 4 đang cuộn cuộn, nước Miama gần sát Việt Nam đã chuyển từ quân phiệt sang dân chủ.
Sau 20 năm tái lập quan hệ đồng chí, trên cơ sở “16 chữ vàng” và “4 tốt” với Trung Quốc, ta càng ngày càng bị họ dồn ép: Thành lập thành phố Tam Sa bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa; mời thầu dầu khí ngay trên vùng đặc quyền kinh tế của ta; xua hằng vạn tàu cá, tàu vũ trang vào vùng biển Trường Sa; đòi “lấy máu người Việt Nam làm lễ tế cờ trong trận chiến Nam Sa“!…
Kỷ niệm 10 năm Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Chính phủ Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam nhất quán chủ trương sẵn sàng cùng Hoa Kỳ nổ lực đưa quan hệ hai nước Việt – Mỹ lên tầm cao mới.” Ngày 2-8-2012 Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết ủng hộ vai trò ASEAN trong vấn đề Biển Đông, ủng hộ Tuyên bố DOC năm 2002 giữa ASEAN- Trung Quốc. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực đóng góp vòng đàm phán thứ 13 Hiệp định Đối tác xuyên Thái bình dương (TPP).
Tình hình trong nước:
Nghị quyết TƯ 4 (khóa 11) nhận định “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tham nhũng đã từ vài “con sâu” trở thành cả “bầy sâu”. Sự khiếu kiện đất đai dai dẳng bởi nạn cướp đất, đẩy nông dân tới bước phản ứng bằng bạo lực. Đội quân chủ lực của cách mạng giải phóng dân tộc đã nãy sinh cựu chiến binh Đoàn Văn Vươn làm bom tự tạo chống cưỡng chế phi pháp. Một trăm hộ dân Văn Giang đương đầu với 1000 cảnh sát vũ trang. Giai cấp công nhân được mệnh danh là giai cấp lãnh đạo, có đến 30% số người bị suy dinh dưỡng. Họ đã tổ chức hơn 5000 cuộc đình công đòi tiền lương, cải thiện bữa ăn, nhiều cuộc huy động từ 5000 đến 10.000 người, nhưng vẫn bị coi là bất hợp pháp, vì không được sự chỉ đạo của công đoàn! Trí thức bị cấm phản biện bằng Nghị định 97 của Thủ tướng. So sánh tư thế của nhà nước Việt Nam với nhà nước Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản…trong cuộc đấu tranh chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, người Việt Nam không khỏi hổ thẹn. Mỹ sẵn sàng giúp Philippines bảo vệ chủ quyền, trong khi đó đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện dân chủ, nhân quyền làm điều kiện “thế chấp”!
Nghĩ về vận nước, không khỏi chua xót nhớ Trần Xuân Bách! Nguyện vọng khoán hộ của Kim Ngọc tuy đã thành hiện thực, đưa Việt Nam vào hàng nước xuất khẩu lương thực lớn thứ hai thế giới. Tuy nhiên cho đến nay, người cày vẫn cánh cánh giấc mơ quyền sở hữu ruộng cày mà Qua Ninh và Vân Đình (bút hiệu của Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp tác giả quyển Vấn đề dân cày) đòi hỏi vẫn chưa được! Phải chăng tất cả đều còn phải chờ đến khi tư tưởng Trần Xuân Bách trở thành hiện thực trong cuộc sống dân tộc?
Ngày 20 -5 -2002 tại nhà anh Trần Xuân Bách ở Trung Tự (Hà Nội), nhà thơ Hải Như đã viết bài thơ tặng anh:
 
TRẦN XUÂN BÁCH
Chắc chắn lịch sử sau này sẽ dành một trang về anh,
                                                                            - khách quan phán xử
Tôi chỉ xin lưu ý nhỏ mai đời:
Cái Trần Xuân Bách mất rõ rồi, nhưng còn cái được,
                                                                           Tuyệt vời sao!
Chia sẻ tiếng sét giáng xuống đời anh,
Có một người đàn bà nguyện làm ngọn thu lôi vượt qua giông bão.
(Chúng ta từng sống một thời vô luân để  2 chữ “liên quan”
                                                                                       đè lên cơm áo).
Trần Xuân Bách. Anh là nạn nhân và cũng là tác giả tội ác.
                                                                                       Đúng không nào?
Trên chục năm dài lê thê con chim bằng gậm nhấm nỗi cô đơn.
Tâm hồn vẫn sáng trong không rũ buồn vì khép cánh.
Từ Sài gòn mỗi lần ra ghé thăm – tôi vui làm nhân chứng Một tình yêu…
Câu “Chúng ta từng sống một thời vô luân để hai chữ “liên quan” đè lên cơm áo” tôi cảm thấy như chỉ trích riêng mình! Sau khi anh Trần Xuân Bách bị kỷ luật, tôi còn tiếp tục làm tổng biên tập báo Lao Động 3 năm nữa, nhưng không đến thăm anh một lần nào! Tôi tự bào chữa: Vì thời gian này tôi phải liên tục đối phó với quá nhiều áp lực, chống đỡ cho tờ báo… Vì tôi đặt tòa soạn báo Lao Động ở Sài Gòn; gia đình, vợ con tôi cũng ở Sài Gòn, cho nên thời gian tôi có mặt ở Hà Nội rất eo hẹp…Nhưng mọi lý do vẫn không đủ để cho tôi có thể từ chối một chữ “hèn”! Anh Hải Như an ủi: “Mình biết, rất nhiều anh nhờ anh Bách mà leo lên “quyền cao chức trọng”, nhưng sau khi anh bị kỷ luật, suốt bao năm có anh nào dám đến thăm ông thày cũ của họ đâu! Cũng đừng trách họ hèn, bởi chúng ta phải sống “một thời vô luân” mà!”.
Ngày anh Bách qua đời (1-1-2006), nhà thơ Hải Như viết bài “Vĩnh biệt người bạn cùng quê”, có 3 câu này:
 “Tôi nhớ tới câu thơ hôm nào anh ghi tặng tôi:
 “Bác Hồ là chúng ta khi chúng ta thật sự là chúng ta.”
 “Ngày Anh đi xa, trên báo Nhân Dân, bạn đọc thấy những gì thuộc về anh đều được trả lại”.
Tôi muốn tuyên xưng “Bác Hồ là chúng ta” theo ý Trần Xuân Bách để tiếp tục đưa Dân chủ, Tự do tới đích. Nhưng tôi không đồng ý với nhận định “những gì thuộc về anh đều được trả lại”! Cho dù điếu văn có nhắc lại tất cả công lao Trần Xuân Bách, cho dù đã kể ra đủ các loại huân chương mà anh được trao tặng, cho dù cuối cùng, anh đã được nằm trong nghĩa trang Mai Dịch, nơi chỉ dành riêng cho các vị đại công thần của chế độ… nhưng tư tưởng cao cả mà Trần Xuân Bách hằng tâm nguyện và dám hiến mình, đâu đã được trả lại?!

Tống Văn Công
 
(Trích hồi ký Làm báo, để nhớ 23 năm trước được gặp Trần Xuân Bách)

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 6-9-12

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Cảm hoá

Bể khổ bao la quay đầu lại là đến bờ. Dù gian nhân phạm tội thập ác mà biết hồi tâm hối lỗi, cửa Phật cũng không hẹp gì vẫn mở rộng đón tiếp.
Vậy có cao tăng nào có thể phát tâm cảm hoá chúng sinh đối với những tội phạm đang trong tù không?

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Mục đích của cuộc đời 2

Năm 1946, từ dân một nước nô lệ (một tờ đơn xin giấy thông hành của người dân mù chữ cũng phải nhờ viết bằng tiếng nước ngoài) chúng ta đã xúc động biết bao khi được viết lên đầu trang giấy:
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc
(Dân tộc) (Dân quyền) (Dân sinh)
Đó là mục tiêu của một dân tộc đã đứng lên đòi quyền sống, cái mục tiêu khiêm tốn, bình dị, dễ thương nhưng cũng đủ để cả một dân tộc phấn đấu trong vài thế kỷ. Còn chủ nghĩa Marx-Lénine ngay từ đầu đã được Nguyễn-Ái-Quốc coi là 'con đường', là phương tiện, là 'cái cần thiết cho chúng ta' thì nó không thể quý hơn chính 'chúng ta' được!
Đảng đã đưa Dân tộc sang bờ Độc lập và đang cùng Dân tộc dấn bước trên con đường đến Tự do, Hạnh phúc. Đường đi có cả loài người, đâu phải một mình ta. Những quy luật tiến hóa là chung cho cả Thế giới, những thành tựu của nền văn minh chung, đặc biệt là về tổ chức xã hội, đã bày ra ai cũng thấy rõ, bài học cay đắng của 'chủ nghĩa biệt phái' chẳng phải đang còn nóng hổi đó sao? Tổ quốc Việt Nam là chung của mọi ngưòi Việt Nam, không một lực lượng chính trị nào có thể độc quyền yêu Tổ quốc.
Ta biết ơn chiếc thuyền nan đã đưa ta qua sông, nhưng sang bờ rồi mà cứ cắm cúi mang 'chiếc thuyền mác-xít chỉ huy' trên lưng như cái mai rùa thì tránh sao khỏi bị người ngoài đàm tiếu và người thân nghi ngờ rằng có sự che đậy hoặc cất giấu cái gì trong đó? Cái 'hành trang khác người' ấy quả thực không còn ích lợi gì cho Dân tộc, có chút bỏ được mới mong tự giải thoát, để được lâng lâng nhẹ nhàng, rảo bước cho kịp bạn bè trên đường thiên lý...

Những ngày tháng 5 năm 1993
Hà Sỹ Phu

Mục đích cuộc đời


Có một chàng thanh niên mang trong lòng rất nhiều dự định, đặt cho mình rất nhiều mục tiêu mà theo anh là cần phải thực hiện. Anh lập quyết tâm thật cao để thực hiện những mục tiêu đó. Tuy nhiên, dù cố gắng rất nhiều nhưng anh chẳng hoàn thành được mấy việc. Dần dần, anh cảm thấy mệt mỏi và uể oải.

 Hôm nọ, do yêu cầu của công việc, anh thanh niên lên đường giữa buổi trưa trời nắng chang chang. Chỉ đi một lúc anh đã mệt nhoài, chân chẳng muốn bước. Thấy từ xa có một cây cổ thụ tán rộng, cành lá sum suê anh mừng lắm, cố lê chân tới gốc cây rồi ngồi nghỉ.
Đang nhăn nhó quệt những giọt mồ hôi chảy đầy trên mặt, anh thấy một nhà sư khất thực tiến tới. Nhà sư cũng dừng lại bên gốc cây, ngồi xuống nghỉ ngơi. Trên mặt nhà sư mồ hôi cũng chảy ròng ròng, nhưng không hề thấy ông nhăn nhó, cũng chẳng thấy ông ta đưa tay lên quệt mồ hôi.
Quan sát nhà sư, người thanh niên chỉ thấy sắc mặt ông yên bình, thanh thản đến lạ, hình như những nóng bức ghê người kia không hề làm ông khó chịu chút nào.
Thấy nhà sư có vẻ thoát tục lạ thường, anh thanh niên kính trọng lắm, mở lời:
- Thưa thầy, con trông thầy thật lạ, dường như thầy đã đắc đạo, giải thoát được khỏi những đau khổ bình thường của thế gian vậy.
Nhà sư nhìn chàng trai nói:
- Không phải bần tăng đã đắc đạo, mà bần tăng đã bỏ được đạo.
- Bỏ đạo? - Người thanh niên sửng sốt.
- Đúng vậy! Một con thuyền chở thí chủ qua dòng sông lớn, qua sông rồi, thí chủ nên bỏ con thuyền mà đi tiếp hay nên vác con thuyền theo mình để tỏ lòng biết ơn?
- Dạ, tất nhiên con phải bỏ thuyền.
- Đạo cũng giống như con thuyền kia vậy. Là công cụ đưa ta đi tìm chân lý. Thấy được chân lý rồi thì phải bỏ hết công cụ đi.
Người thanh niên thấy lời nhà sư có vẻ như không đúng, tuy nhiên anh chưa biết phản bác thế nào.
 Nhìn vẻ mặt của người thanh niên, nhà sư hiểu ý, ông nói:
- Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã nói: “Ta không cần mọi người tán dương ta, mà chỉ muốn mọi người thực hành giáo pháp của ta”. Lòng từ bi của đức Phật bao la, Ngài đâu cần chúng sinh ghi nhớ công ơn của Ngài, mà chỉ mong chúng sinh thực hành giáo pháp tự vượt qua cái khổ của đời người. Giáo pháp của nhà Phật vốn đều quy về một chữ không. Không ác, không thiện, không ma, không Phật.
Anh thanh niên giật bắn người:
- Thầy bảo sao!
Rồi anh lẩm bẩm từng lời mà nhà sư vừa nói:
- Không ác, không thiện, không ma, không Phật!
Thấy thái độ của chàng thanh niên như vậy, nhà sư hỏi:
- Theo thí chủ, ác là gì ?
Bị hỏi bất ngờ, anh thanh niên hơi lúng túng, ấp úng nói:
- Theo con... theo con... ác là làm những việc trái với đạo lý như đánh, giết người … ừm... ừm... nói chung theo con ác là làm hại người khác để lợi mình, hoặc để cho mình được vui thích.
- Ác không chỉ có vậy, nhưng thí chủ hiểu như vậy cũng không sai, vậy theo thí chủ, nguyên nhân tội ác từ đâu ra?
- Dạ con không biết ạ!
- Ác do tham, sân, si mà ra. Tất cả vốn tự tâm mình cả, nếu tâm không thì không có ác! Bây giờ thí chủ có thể cho bần tăng biết, thiện là gì không?
- Theo con, thiện là lòng tốt của con người, làm thiện là làm việc tốt cho người khác, đôi khi có thể vì người khác mà quên đi bản thân mình.
- Thiện cũng không chỉ là vậy, tuy nhiên nghĩ như vậy cũng đúng. Theo thí chủ thiện từ đâu sinh ra?
- Như giải thích của thầy khi nãy, thì thiện cũng do tâm sinh chăng?
- Đúng vậy, thiện cũng từ tâm ra. Chúng ta nhìn vào ác để thấy thiện, nhìn vào thiện để thấy ác. Tự nhiên vốn không có ác, không có thiện. Ma và Phật cũng vậy. Tất cả đều do tâm động mà sinh. Để dễ hiểu hơn, ta hỏi thí chủ một câu: “Khi cầm một vật lên, dù vật đó to hay nhỏ, thí chủ sẽ nặng người thêm hay nhẹ đi ?”
- Dù vật đó như thế nào thì người con cũng sẽ nặng thêm.
- Tâm con người cũng vậy, càng động thêm càng tăng phiền não. Vì vậy con người không nên mang gánh nặng quàng vào mình, mà nên học cách bỏ đi mới là sáng suốt.
Nói xong nhà sư kết luận:
- Chúng sinh thường mong muốn cao xa, tự gây khổ cho mình. Đâu biết “tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, tánh tự nhiên vốn chẳng sinh diệt, tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, tánh tự nhiên vốn không lay động, tánh tự nhiên thường sinh muôn pháp”.
Giáo lý của nhà Phật phải từ từ mới hiểu, lại từng bước mà lên, không thể một sớm một chiều là thông. Bần tăng và thí chủ đã có duyên mà cùng luận bàn câu chuyện, bây giờ cũng là lúc bần tăng phải đi. Mong thí chủ suy ngẫm đôi điều, biết đâu sẽ được lợi ích gì chăng?
Nói rồi nhà sư từ biệt ra đi, bỏ lại sau lưng người thanh niên vẫn còn đang thẫn thờ với câu hỏi lớn trong đầu: “Mục đích chân thực của đời người, rốt cuộc là tìm kiếm hay bỏ đi đây?”.
* Chỗ tôi mở ngoặc kép, viết nghiêng là lời của lục tổ Huệ Năng. Tôi viết là nên bỏ đi mới sáng suốt, nhưng khi đã hiểu ra thì bỏ đi có nghĩa là nhận lại bao la vô cùng. Các bạn thử tưởng tượng một căn phòng chứa rất nhiều đồ đạc to và vướng, ánh sáng của đèn điện không chiếu được khắp mọi nơi, khi chúng ta bỏ hết đồ đi thì khắp phòng chỉ toàn là ánh sáng. Bỏ ở đây là bỏ gánh nặng, u mê và phiền muộn, để trí tuệ tỏa sáng. Chúng ta cần có cái thang để leo lên mắc bóng điện, nhưng mắc xong rồi mà ta không bỏ thang đi thì cái thang sẽ là vật cản trở, gây vướng víu. Truyện này người hiểu được thì cực dễ, còn đã không hiểu thì cực khó. Có lẽ truyện chỉ dành cho người có duyên!
Nguồn chuahoangphap.vn
Nguồn: http://longvien.org/bai-viet/phat-giao-va-doi-song/96-muc-dich-cua-cuoc-doi

Dắt Tay Nhau, Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường của Trí Tuệ




Thử giải bài toán lôgic xã hội "Mọi nguồn rắc rối bắt nguồn từ đâu ?"
Mấy lời phi lộ: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan lạm bàn chuyện 'quốc gia đại sự'. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người.
Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn qua những quy luật khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết chỉ có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn. Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái 'hạt nhân hợp lý' thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi.Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.
Những điều này nói ra hôm nay đã là quá muộn.

Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Ngày 2 tháng 9 năm 1988

Hãy thử để cho Trí tuệ được vài phút hòan toàn tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu không thấy có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi 'bộ nhớ', tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. Ít ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.
Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu ?
Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những 'tư duy' đang được gọi là 'đổi mới' , tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa... đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.

Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều 'nghịch lý' , nếu chưa muốn nói là cấu thành bởi toàn những 'nghịch lý':
- Hệ thống "dân chủ gấp triệu lần" lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
- Hệ thống tiêu biểu cho Sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
- Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật thì lại là điển hình của bệnh duy ý chí.
- Hệ thống ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên) , tiêu biểu cho sự giải phóng Con người thì lại không ưu việt về Quyền Con người, luôn bị chỉ trích về Quyền Con người.
- Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại 'xuống cấp những giá trị đạo đức', đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
- Hệ thống tiêu biểu cho tính 'nhân loại', tính 'tập thể' thì lại xuất hiện rất nhiều ví dụ về tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người trùm lên tất cả.
- Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của trí thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa Cộng sản và người Cộng sản) thì vấn đề trí thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
- Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những "thắng lợi to lớn" nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa.
- Hệ thống Xã hội chủ nghĩa được mô tả là đầy sức sống, còn chủ nghĩa Tư bản thì đang 'giãy chết'. Vậy mà , trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía 'giãy chết' cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia ! ...vv...

Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
- Ta có đường lối 'đúng đắn' nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. 'Trên' thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
- Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại. Bè lũ Đế quốc và bọn Thực dân, Phong kiến phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
- Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng rèn luyện nên thoái hóa biến chất. Chung qui chỉ tại cái chủ nghĩa Cá nhân !
- Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những 'tư duy cụ thể' như 'tư duy kinh tế', 'tư duy đối ngoại' ...vv...
Trước một thực tế xã hội đầy những 'nghịch lý' lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ánh được phần nào hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.
Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong toàn hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mắt mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không chấp nhận được. Những hiện tượng 'tiêu cực' rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu 'thợ vườn' sai đâu sưả đấy thì sẽ chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải được hệ thống hóa lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm tới nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic tự nhiên ấy chẳng chóng thì chầy sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dẫu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.
Những thông tin, nhất là thông tin từ công cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
- Cần xem lại một số luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
- Chủ nghĩa Đế quốc có thật là 'giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa Tư bản' hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa Tư bản ? Và một khi chủ nghĩa Tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và do đó chưa hề tạo tiền đề có một cuộc 'cách mạng Xã hội chủ nghĩa' đích thực ...
Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra nguyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.
Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không ?

Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem xét MỤC ĐÍCH và PHƯƠNG TIỆN mà chủ nghĩa ấy đề cập tới. Lý tưởng Cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp, vì đã gọi là 'lý tưởng' thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và những bất công xã hội? Lý tưởng Cộng sản nhấn mạnh tính 'xã hội' của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hóa tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự 'xã hội hóa' sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau.
"Một xã hội không còn người bóc lột người" , chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ 'bóc lột ' ở đây như một thuật ngữ chính trị-kinh tế học , là 'bóc lột giá trị thặng dư ' , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề này cũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể gây ra mọi chuyện.
Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng không phải là lý tưởng ấy ước vọng điều gì mà lại là đi tới ước vọng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là "hòn đá tảng của chủ nghĩa Xã hội khoa học" !Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu hơn một chút trên 'hòn đá tảng' này để xem xét cho kỹ, không thể vội vã cho qua được.
GIAI CẤP LÀ GÌ , VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG XÃ HỘI NHƯ THẾ NÀO ?
Để phân định điều phải trái và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : tri thức, lòng tin, và quyền lợi.
Luôn lấy tri thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY LÝ (1), cái gì trái với những quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TÍN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LỢI (3), cái gì trái với những lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.
Theo mức độ duy lý, con người chia thành trí thức và không trí thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không có tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tín thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia thành giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi, chỉ thích hợp với những người duy lợi. ( Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội ; cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (tức là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp).
Vì vậy, sự phân chia con người theo giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không thể là sự phân chia có ý nghĩa tổng quát, không bao hàm được hết mọi người trong xã hội. Tuyệt đối hóa lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cũng như nhiều vấn đề xã hội khác.
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) (2) (3) : Khái niệm 'Duy lý' ở đây không hoàn toàn trùng với khái niệm Duy lý của Descartes. Những chữ 'Duy lý', 'Duy tín', 'Duy lợi' là những thuật ngữ riêng của tác giả.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một ' thành phần giai cấp ' nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người trí thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái "bản chất lừng khừng, không kiên quyết cách mạng" (!). Nói về tính 'kiên quyết' thì thực tế cho thấy người duy tín cũng có thể "tử vì đạo" , người duy lợi có thể chết cho quyền lợi nào đó, và nhà bác học cũng có thể kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, nhà khoa học cũng có thể 'kiên quyết cách mạng' đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.
Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn cho hành động đạt kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau ; vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Tuy vậy thực tế khó có sự hoàn hảo ; ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy khó đạt được sự thống nhất hoàn thiện mà thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc của biết bao hiện tượng rối rắm, nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương "kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân" , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hòa giữa duy lý và duy lợi. Nhưng rồi trong thực tế trào lưu Cộng sản thì sự cân bằng lý thuyết này cứ bị chuyển dịch để cái duy lợi thôn tính dần cái duy lý.
Các-Mác rất coi trọng vấn đề 'lợi ích' và ở một nhà khoa học thì đây là một điều đáng quý. Nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở gốc duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ gốc duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít ( nhân bất học, bất tri lý) , dễ thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.
Trong ba căn cứ ấy thì Duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung được cái Duy lợi và Duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa Duy lợi hay Duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nổi cái Duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung quốc nào võ biền ít học thì "phần thư khanh nho" (đốt sách, giết nhà nho). Những hồng vệ binh nông dân mù chữ Trung quốc và những tên lính mù chữ Cămpuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt trí thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu " Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ!" . Nhiều danh nhân văn hóa của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự...
Nhìn rộng ra nữa thì lịch sử tiến hóa của nhân loại thực chất là gì ?
Do biết sử dụng công cụ nên , khác với mọi sinh vật , con người không tiến hóa bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động . Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến qui trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng ... dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện của sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và các quy luật quản lý, tổ chức xã hội.
Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hóa là dòng phát triển của tri thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức sự đấu tranh giai cấp, chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hóa nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hóa bất tận.
Khi nói : Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố năng động nhất (so với quan hệ sản xuất) thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói :Trong lực lượng sản xuất thì sự "năng động" ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự "năng động" ấy nằm ở bộ óc tức phần lao động trí tuệ.
Bản chất của sự tiến hóa là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong một học thuyết tiến hóa xã hội đáng lẽ phải là như vậy. Nhưng dưới 'lăng kính giai cấp' nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hóa của xã hội như sau : " ...Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ ...". Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hóa là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ các giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắm được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi toàn những bất công vô lý, trong đó những kẻ 'xấu bụng' đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội, và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (?!).
Không, lịch sử có quy luật chứ không tùy tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là 'cách mạng xã hội' bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học-kỹ thuật, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền bính thì trước sau họ cũng rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chính quyền mau chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội.( điều này phù hợp với quy luật cạnh tranh sinh tồn chứ không phù hợp với thuyết đấu tranh giai cấp Mácxít ). Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới là một việc làm chỉ mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên sẽ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.
Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.
Thực tế cũng bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người hiểu tinh thần chính của chữ ' cách mạng' là ở ý nghĩa lật đổ , lật đổ người giàu lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cào bằng, cào bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua. Chủ nghĩa Cộng sản giương ngọn cờ Công Nông không thể nào tránh được vết xe đó.
Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của 'Cách mạng' là động tác nâng cao chứ không phải động tác cào bằng. Cào bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cào bằng vì cào bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn. Kiểm điểm lại, nếu ta mới chỉ đạt 'những thắng lợi to lớn' trong những việc mang tính lật đổ và cào bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao một cách vững chắc thì thực chất là chưa có 'cách mạng' ! Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc ... mặc dù tất cả những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có những cuộc đấu tranh giai cấp) đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều là những biểu hiện của đấu tranh sinh tồn, đều có giá trị riêng của nó và có liên quan mật thiết với nhau.
Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp thống trị trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ tiên tiến nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại để công nhân đồng thời là trí thức. Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho tri thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhiều. Xã hội càng phát triển thì sự chuyên hóa giữa công nhân và trí thức lại càng cần thiết, và hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Hoa kỳ, Nhật bản ...) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự "giác ngộ giai cấp" , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng , tức là càng đi ngược lại điều kiện ước mong của Mác! Như vậy chính yêu cầu của Mác đề ra cũng còn bất cập , huống chi những người Cộng sản Nga và Đông Âu thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy , chủ trương làm 'cách mạng' ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách rất xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.

Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lênin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp tốc trau giồi tri thức, và tự Lênin đã nêu một tấm gương về sử dụng trí thức , kể cả trí thức của chế độ cũ. Lênin nói : "Chỉ có đem toàn bộ kho tri thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản". Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức, tức là chất Cộng sản và chất Trí thức phải trùng làm một ! Nếu mọi đảng viên cộng sản đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lênin thì đảng Cộng sản chính là đảng của trí thức -trí thức cách mạng !
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thể thực hiện được không ?
Xin kể ra đây một tình trạng có thật và khá phổ biến : "Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp 1 và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có, dám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau dồi bao nhiêu tri thức về khoa học tự nhiên, về triết học Mác-Lê, vềchính trị ... thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành tầng lớp trí thức tiểu tư sản bấp bênh ! Trở thành kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư ... thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học ! ..." .Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng ngược chiều với chất trí thức !
Đó là điều 'nghịch lý'.
Nhưng ' nghịch lý' này lại là nguyên nhân của một loạt các 'nghịch lý' tiếp theo.

Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, sản phẩm hàng hóa ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất 'vô lý' (thực ra chẳng có gì là vô lý cả) là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.
Con người một khi không đủ tri thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì 'cải tiến' cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra) ! Có chức có quyền thì có lợi ! Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to ra mãi. Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì nhà nước buộc phải 'chống bao cấp' nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận vốn cần được bao cấp chu đáo để phục vụ những nhu cấu công ích và chiến lược lâu dài. Điều ấu trĩ này làm cho nhà nước yếu đi, nhà nước yếu đi thì không còn chủ động điều khiển được sự chống bao cấp. Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn, nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chộp giựt.
" Giảm biên chế" là một nhu cầu sống còn nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được trong sạch từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng không được thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng 'tư hữu hóa' cả cơ quan nhà nước.
Khi người chỉ huy không đủ tri thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ : một mặt rất muốn dùng những người trí thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên thân tọa hưởng giữa nơi mập mờ bùng nhùng họ không dám thực sự nâng cao dân trí, không dám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Ánh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn "kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp" lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành, mà lợi ích cũng không còn là lợi ích của giai cấp).
Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu tri thức thì ắt sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Càng bất lực trước quy luật càng phải ngụy biện và áp đặt. Vì thế mà xuất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống giàu Nhân tính nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyền Con người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lênin đã từng phê phán kịch liệt thứ 'xã hội chủ nghĩa kiểu trại lính' , kiểu này là sản phẩm chung của mọi thứ 'xã hội chủ nghĩa không tưởng' (!).
Việc xây dựng Chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghĩa chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự SÙNG BÁI CÁ NHÂN. Tại sao vậy ?
Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi giá trị Nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất, thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : "Không có sự nhân đạo chung chung ! Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác." Thế là tính Nhân đạo được thay thế bằng tính Giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn, lấy cái riêng thôn tính cái chung). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ là sự nhân danh một cách hình thức, vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi ' đội tiên phong ' của mình là Đảng , tính Giai cấp được nâng thành tính Đảng. Đảng theo nguyên tắc 'tập trung dân chủ ' ( mà điều quái lạ là trong thực tiễn thì tính dân chủ cứ thường xuyên bị vi phạm , còn tính tập trung thì bất khả vi phạm ). Đảng 'tập trung ' vào Trung ương Đảng, Trung ương Đảng ' tập trung ' vào Bộ Chính trị ... và cuối cùng ' tập trung ' vào một người nắm quyền cao nhất . Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị qui là chống Trung ương, chống Trung ương sẽ bị qui là chống Đảng, chống Đảng qui thành chống giai cấp , mà chống đúng vào cái giai cấp ' tiêu biểu ' của thời đại và của dân tộc thì hiển nhiên là chống dân tộc , hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì ! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo một cách đơn giản bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin, Mao trạch Đông ... dễ dàng qui nhiều đồng chí của mình trong Bộ Chính trị thành ' phản động ' đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao ?
Vì thế mà tồn tại cái điều rất ' vô lý ' (?) là muốn xây dựng một hệ thống đặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại, lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan , ngược với tính Nhân loại.

Tiến hóa cũng là quá trình trong đó tính NHÂN từng bước lấn dần tính THÚ. Khi yếu tố NHÂN không được phát huy thì yếu tố THÚ sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc hành hạ người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn chứ không sáng tạo ...
Con người là một 'sinh vật xã hội' nên sự phát triển tính NHÂN cũng đồng thời là sự phát triển tính XÃ HỘI, tính có tổ chức của nó. Tính XÃ HỘI là một biểu hiện cao của NHÂN TÍNH, còn chủ nghĩa QUÂN PHIỆT , CHUYÊN CHÍNH vô sản hay mọi thứ chuyên chính và mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là di chứng của thú tính , nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa , chứ tại sao lại dùng CHUYÊN CHÍNH để thực hiện một chủ nghĩa mang tính ' XÃ HỘI ' ?

Chúng ta có trong tay mình một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược ; lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì được ở đúng vị trí của nó cả ( tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.
Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được tác dụng. Ví như trong một vùng 'phản vật chất ' thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một ' không gian phản quy luật ' thì những nghịch lý sẽ hoạt động : cái tinh thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ ... và con người đi giật lùi !
Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được ? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưởng của chúng ta thì không thể nóo là không cao đẹp. Vì, thực tế khách quan tuy có thế thật nhưng chủ quan thì ai muốn như thế ? Vì, hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có như thế ? Vì, tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao ? Vì, tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ ? ... Vâng , đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn các lời giải nửa chừng thì tạm thời có thể dễ dung hòa nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.
Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiện. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta cố thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được. Chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới.
Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một ' chiến sĩ ' trong mặt trận ' Đổi mới ' . Nhưng nhiều người cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách CHIẾM HỮU CHỨC QUYỀN cho chắc, miệng thì NÓI DỐI, tìm mọi cách để NGỤY BIỆN, NGỤY TRANG.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất.
Còn muốn dung hòa giữa hai thứ không thể dung hòa là là lý tưởng cứ tốt đẹp và thực tế cứ xấu thì có cách gì khác mà không phải nói dối, ngụy trang ? Ngụy trang và chống ngụy trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa ... ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu, chín chắn, có quan điểm lịch sử, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi ... nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như : thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ ... Một bộ phận của giới trí thức bị phân hóa đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức) đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, ngụy biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hóa, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoáy ra.
Nhưng không, nhất định chúng ta phải thoát ra !

Tất cả những điều đã trình bày ở trên có thể ' sơ đồ hóa ' bằng một sơ đồ dưới đây. Xin theo rõi sơ đồ theo thứ tự đánh số, theo chiều những mũi tên; gốc mũi tên chỉ nguyên nhân, đầu mũi tên chỉ kết quả. (xem sơ đồ).
Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện (ô sồ 2) không thích đáng thì không tới được mục đích (ô số 1).
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người trong đó có anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực đến mức anh ta ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu mà chúng ta gọi là thoái hóa biến chất) : cứ ngồi lì trên xe mà tọa hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh sẽ được chia chắc gì đã bằng cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này ? Thế là anh lái xe biến luôn cái PHƯƠNG TIỆN chung kia thành MỤC ĐÍCH. Anh ta 'đến đích' một mình, đến 'thiên đường' rất sớm, còn mọi người thì chẳng ai được 'xơ múi' gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe ! Cái anh ta cần biết bây giờ là kỹ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.
Ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác-Lênin được bác coi là "con đường", tức là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại phát sinh cái tín ngưỡng "dâng tất cả để tôn thờ Chủ nghĩa" (!). Lạ như vậy đấy, 'chủ nghĩa ' với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta "thờ" ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm và ấu trĩ quá đó thôi ... Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ : Khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc) phải đổi chỗ để thành cái phương tiện (!). Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước : khi đôi giày đã được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giày mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân tóe máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giày xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta 'tự hào' về sự thông minh của mình, rằng nếu anh không 'kiên định' thì cú vấp vừa rồi hẳn đã làm sứt mất đôi giày quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt ! Nhưng anh ta có cái ' lý ' của anh ta đấy vì đối với anh ta thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giày bóng, chứ đâu phải đôi chân ! Cố giữ lấy đôi giày cũng phải !


Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh , vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chăng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp !) . Có một quy luật đã được chiêm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu bằng tiếng gọi của ' lợi quyền ' thì trước sau gì cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là được quốc tế hóa ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về ' chủ nghĩa ' thì đủ sức ôm cả cái loài người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên ' tôn thờ ' , là CHỦ NGHĨA NHÂN ĐẠO ! Mọi ' chủ nghĩa ' khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi !

Có hành động đúng theo quy luật thì mọi việc mới ' xuôi ' được. Hiện tượng ' xã hội lộn ngược ' với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chóng trả quyết liệt của quy luật. Muốn " làm chủ" như chúng ta thường nói , trước hết phải ' làm chủ ' được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những tri thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải biết lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tưởng đã ' đóng đanh ' vào lịch sử. Chính Mác đã khuyên mọi người " Hãy hoài nghi tất cả !". Thật là nhân cách một nhà khoa học lớn ! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự ' xét lại ' mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu Mácxít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm, để quy tội "xét lại" cho tất cả những ai không chịu răm rắp nghe theo mình ! Một khi chính Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn "học trò" nào của Mác được phép chấp nhận điều đó ? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chỉnh thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác ? Việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của ta đối với Mác, trái lại ta có thể tự hào đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được đứng lên vai.
Nhưng "hoài nghi" mới là điều kiện "cần", chưa phải điều kiện "đủ" ! Hoài nghi có thể dẫn đúng hơn , cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ ' hoài nghi ' Mác để "bổ sung", để "nâng cao", thậm chí để ... "cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường" (Lênin) , mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.

Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dần đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng ( và việc này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã ló ra rồi.
Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm "kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát ..." đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : " Tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại !". (Tuần tin THANH NIÊN 8-8-1988).
Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trtên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường ?
Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau, đi chung trên một con đường, con đường tiến hóa, thênh thang,dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ !
Ngày 2 tháng 9 năm1988
Tú Xuân HÀ SĨ PHU
Địa chỉ : PTS Nguyễn Xuân Tụ
4E Bùi thị Xuân, Đà lạt.
Nơi gửi :
- Bạn bè, những người hiểu biết, quan tâm và có trách nhiệm để xin ý kiến trao đổi
- Báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Tuổi trẻ
Lời chú thích:
" DẮT TAY NHAU " TRONG MỘT CUỘC TRANH LUẬN KỲ LẠ
Sau khi báo Nhân dân (ngày 25&26/7/1990), báo Quân đội nhân dân (ngày 9 & 10/7/1990) và báo Tuổi trẻ (ngày 30/6 & 5/7/1990) đăng bài của các tác giả Thuận Thành và Lưu văn Kiền phê phán bài " Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ " (một bài chưa được đăng ở đâu cả), nhiều dồng chí cán bộ và sĩ quan quân đội biết, đã yêu cầu tôi cho mượn bài viết ấy để tham khảo, đối chiếu. Vì chưa có báo nào đăng nên tôi đành sao bài này ra một số bản để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và đối thoại (như tác giả Thuận Thành đã đề xuất) của một số bạn bè đồng thời là độc giả của các báo nói trên. Nếu tính đến giữa năm 1991 thì tổng số các bài và các tài liệu phê phán bài " Dắt tay nhau..." đã vượt quá con số ba mươi !.
Có lẽ chưa có cuộc tranh luận nào kỳ lạ như cuộc ' tranh luận ' quanh bài " Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của Trí tuệ " của tôi (mặc dù trong đó nghĩ mười mới viết được một ). Suốt nột năm rưỡi trời các giáo sư triết học, các nhà chính trị, tuyên huấn ... của Viện Triết, trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, ban Văn hóa tư tưởng trung ương, báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân ... đã viết liền mấy chục bài và sách, tập trung phê phán một bài tiểu luận mà bài này chỉ được chuyền tay chứ không được phép in ở đâu cả. Mấy chục võ sĩ ra sân khấu, đấu rất sôi nổi với một ' địch thủ ' chỉ được phép ở bên trong hậu trường. Trong cuốn "Nêu cao tính chiến đấu, chống mọi hoạt động phá hoại về tư tưởng " , ban Văn hóa tư tưởng trung ương đã dành hầu hết các trang để chỉ trích những nội dung được trích một cách rời rạc từ bài "Dắt tay nhau ...". Thậm chí trong cuốn "Giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh của Đại hội VII ", ủy viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng cũng đề cập tới bài đó như một ví dụ cụ thể duy nhất làm đối trọng ! Có tác giả đã gọi tôi là " kẻ phát ngôn trong bóng tối" , " cao ngạo hơn cả Duhring", có tác giả dọa sẽ có biện pháp đối xử với tôi một cách "đúng mực" , "theo như yêu cầu đòi hỏi của quy luật đấu tranh giai cấp" (!). Và thực tế thì bài "Dắt tay nhau ..." đã không phải không gây phiền phức cho tôi và nhà văn Dương Thu Hương trong những ngày được ' tiếp kiến ' Bộ Nội vụ !
Đấy là mặt không vui.Nhưng câu chuyện lại có mặt vui của nó. Bài ấy tôi viết hai năm trước khi có những sự cố ở Đông Âu và Liên xô, thực tiễn thế giới sau đó đã chứng thực cho dự đoán của tôi, các "tấm biển chỉ đường" lớn nhỏ đã được quay ngược lại hết. Việc Đại hội VII lấy "Trí tuệ" làm khẩu hiệu hàng đầu (mặc dù ngay trước đó nhiều nhà lý luận vẫn còn khẳng định rằng chủ nghĩa Mác Lêchính là Trí tuệ tối cao của nhân loại rồi, nói Trí tuệ nữa là thừa !) và không nói đến "Chuyên chính Vô sản" nữa thì điều ấy thực sự đã phù hợp với nội dung chính trong bài viết của tôi. Tôi lấy làm vui lắm, và tin rằng những nội dung khác của bài viết cũng sẽ chuyển rất nhanh từ trạng thái gây dị ứng, phải chống đến cùng, sang trạng thái mặc nhiên tự tại - "biết rồi, khổ lắm, nói mãi" !
Là người làm công tác khoa học, dốt về chính trị, tôi chỉ nói những điều về nhận thức khoa học, những vấn đề có tính nguyên lý. Trong khoa học tự nhiên, Mác ' duy vật ' và ' biện chứng ' bao nhiêu thì khi vận dụng vào xã hội Mác lại ' duy tâm ' và ' siêu hình ' bấy nhiêu. Ai có thể phủ định chủ nghĩa Mác nếu không phải là phần này của tư tưởng Mác đã tự xung đột với phần kia của tư tưởng Mác ! Nhà duy vật biện chứng trứ danh trong khoa học ấy lại đồng thời là đại biểu cuối cùng và đặc sắc nhất của trào lưu " xã hội chủ nghĩa không tưởng" mà ông đã kịch liệt phê phán và kế thừa.
Nhân loại đã phải trả giá cho sự ' không tưởng ' của mình và hôm nay đã vượt được qua nó , đó là một điều vĩ đại. Nhưng, vượt lên trên những máu và nước mắt, cuối cùng thì -nói theo cách hóm hỉnh của Mác- nhân loại vẫn muốn "từ giã quá khứ của mình một cách vui vẻ". Chỉ có điều là trong màn hài kịch lớn này, lịch sử sẽ chọn ai làm tên lính hề cuối cùng rút lui khỏi sân khấu ? ..
Tháng 2 năm 1993
Hà Sĩ Phu