Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

1277712861_luat 020 NQL: Rất nhất trí với TS Hoàng Xuân Phú. Rất khâm phục tư duy logic rất sáng sủa của tiến sĩ toán học thứ thiệt này!
Trong thời gian qua, nhiều người mong muốn sửa đổi Hiến pháp 1992, để bỏ hoặc thay đổi một số quy định, ví dụ như quy định về quyền lãnh đạo (được hiểu là đương nhiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội (Điều 4), và quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý (Điều 17–18). Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch. Ngược lại, tôi thuộc số những người lo rằng việc sửa đổi Hiến pháp có thể bị lợi dụng để hạn chế hơn nữa quyền con người. Và bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã cho thấy nỗi lo đó không phải là vô cớ. Thậm chí, không ngờ họ lại có thể đi xa như vậy…
 Trong Hiến pháp 1992, thuật ngữ “quyền con người” chỉ được nhắc một lần, tại
“Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.”
Tức là “quyền con người” được đồng nghĩa với “quyền công dân”. Vậy thì những người đang tạm thời bị tước “quyền công dân” sẽ không còn được hưởng “quyền con người”. Hơn nữa, sau khi định nghĩa “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 49), thì “quyền con người” sẽ không còn được áp dụng cho những người đang tồn tại trên đất Việt Nam, nhưng không hoặc chưa “có quốc tịch Việt Nam”. Điều này cho thấy cách hiểu về “quyền con người” trong Hiến pháp 1992 phiến diện như thế nào.
 Một thay đổi dễ nhận thấy trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992“quyền con người” được tách ra, được nhắc tới 8 lần, luôn đi cạnh và được đặt trước “quyền công dân”. Ở chế độ mà giới lãnh đạo vốn rất khó chịu khi nghe nhắc đến “nhân quyền” (tức là “quyền con người”), thì đây là một bước tiến, muộn mằn nhưng có vẫn hơn không.
 Một thay đổi nữa, là “quyền công dân” cùng “quyền con người” được đưa từ Chương V (trong Hiến pháp 1992) lên Chương II (trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Ở Cộng hòa Liên bang Đức, “quyền con người” được đặt lên vị trí hàng đầu, trong Chương I của Hiến pháp. Ở CHXHCN Việt Nam thì Chương I của Hiến pháp được dành cho “Chế độ chính trị”. Chính trị là một cái gì đó rất thiêng liêng, mà cũng rất bí hiểm, và càng bí hiểm thì càng… hữu dụng. Khi muốn đùn đẩy công việc, thì tuyên bố: “Cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị.” Khi muốn làm liều, thì khẳng định: “Với quyết tâm chính trị, chắc chắn sẽ làm được.” Còn khi muốn lẩn tránh trách nhiệm của bản thân, thì chỉ cần tỏ chút áy náy và “nhận trách nhiệm chính trị.
 Hai thay đổi kể trên là theo hướng tiến bộ, đáng được ghi nhận. Song như vậy thì mới thể hiện rằng quyền con người đã được chú ý hơn. Mà chỉ chú ý thì chưa đủ và cũng chưa chắc đã tốt. Chẳng hạn, nếu bạn được công an chú ý, thì điều đó không hẳn là dấu hiệu hay. Để đánh giá chính xác các thay đổi về quyền con người và quyền công dân, thì phải xem xét các quy định cụ thể.
 Bài này không nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mà chỉ điểm qua một số ví dụ đáng lưu ý về sự thay đổi tiêu cực hay có thể là tiêu cực, liên quan tới quyền con người và quyền công dân. Hy vọng rằng những nhận xét dưới đây sẽ có ích cho những người đang muốn tham gia góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
 Quyền hư quyền ảo
 Trong “Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, xuất hiện một quyền mới (so với Hiến pháp 1992) là:
Điều 21: Mọi người có quyền sống.”
Nghĩ một cách dân dã, thì thấy điều này có vẻ ngồ ngộ. Quyền sống” còn hiển nhiên hơn cả “quyền ăn ngủ”, bởi muốn “ăn ngủ” thì tất nhiên phải sống”. Vậy mà nếu hiến định rằng “Mọi người có quyền ăn ngủ” thì ai nấy đã thấy ngây ngô.
 Thực ra, câu “Mọi người có quyền sống” cũng xuất hiện trong Hiến pháp của một số nước, chẳng hạn tại Điều 2 của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Jeder hat das Recht auf Leben). Điều đó chứa đựng một nội dung rất quan trọng, mà hệ quả trực tiếp của nó là: Không thể có án tử hình, vì tử hình một người là xâm phạm quyền sống” của người đó.
 Chấp nhận án tử hình hay không là một vấn đề nan giải, vẫn còn đang được tranh luận ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều nước vẫn duy trì án tử hình, như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.
 Liệu có thật là nhà cầm quyền Việt Nam muốn hủy bỏ án tử hình hay không? Nếu đúng là họ muốn hủy bỏ án tử hình, thì đây là một thay đổi rất quan trọng. Còn ngược lại, nếu họ vẫn định tiếp tục duy trì án tử hình, thì Điều 21 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa thừa, vừa giả dối, và chỉ chất to thêm đống quyền hữu danh vô thực trong Hiến pháp mà thôi.
 Một quyền mới khác trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp là:
Điều 35: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội.”
Điều này được sửa đổi từ Điều 67 của Hiến pháp 1992, quy định rằng:
“Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.”
“Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.”
“Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.”
Nghĩa là:
-       Chỉ đề cập đến một số đối tượng đặc biệt, đó là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, người già, người tàn tật và trẻ mồ côi;
-       Chỉ hứa hẹn một cách chung chung,“được hưởng các chính sách ưu đãi”, “được tạo điều kiện”, “được khen thưởng, chăm sóc”, “được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”;
-       Chỉ đề cập đến mấy nội dung cụ thể,“phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định”, và những thứ đó chỉ dành riêng cho đối tượng thương binh.
 Điều 35 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra những bước đại nhảy vọt so với Điều 67 của Hiến pháp 1992, đó là:
-       Áp dụng cho mọi công dân;
-       Không chỉ là hứa hẹn chung chung, mà nâng lên thành quyền được bảo đảm;
-       Nội dung được bảo đảm không chỉ dừng lại ở mấy nội dung cụ thể, mà bao trùm lên toàn bộ “an sinh xã hội”.
Đây là một ý tưởng cách mạng vĩ đại, nếu họ thực tâm muốn triển khai. Tiếc rằng, nếu thực tâm thì ngây ngô, và nếu không ngây ngô thì không thể thực tâm.
 Quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi. Thời gian qua, mới chỉ tập trung cho một số đối tượng rất chọn lọc và chỉ dừng lại ở mấy chế độ phúc lợi rất khiêm tốn, thế mà còn chưa làm tốt nổi. Vậy thì sao có thể bảo đảm an sinh xã hội cho mọi công dân? Lưu ý rằng chế độ “an sinh xã hội” bao gồm cả chăm sóc về y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Lấy đâu ra tiền của để thực hiện “ý tưởng cách mạng vĩ đại” ấy?
 Công dân có quyền được bảo đảm”, nhưng ai, cơ quan hay tổ chức nào phải đứng ra “bảo đảm”? Phải chăng cuối cùng họ sẽ phán rằng Dân phải “tự bảo đảm”?
 Trong thời buổi tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, thì những chính sách viển vông không chỉ vô ích, mà còn rất tai hại, vì giới cầm quyền sẽ “mượn gió bẻ măng”. Điều này đang diễn ra dưới nhiều danh nghĩa, ví dụ như việc xây nhà ở xịn để bán cho người nghèo ở giữa đô thị đắt đỏ. Khi đã đẻ ra một chính sách phúc lợi xã hội nào đó thì họ có cớ để vung tiền từ ngân sách, tức là tiền của Dân. Tất nhiên là không đủ để “ngập tràn thiên hạ”. Lúc đó, “nước có quyền chảy vào chỗ trũng”, nghĩa là ưu tiên cho “người thân” (theo nghĩa rộng, bao gồm cả những người quen thân vì tiền), và cũng không quên phần mình. Đối với các quan tham, “từ thiện” không còn là mục tiêu hành động, mà là phương tiện để vơ vét cho bản thân.
 Hơn nữa, khi số tiền của ít ỏi có thể dành cho phúc lợi xã hội bị vung vãi trên diện quá rộng, thì nảy sinh nguy cơ là nhiều người lẽ ra vẫn được hưởng trợ giúp sẽ không còn được hưởng nữa.
 Hai ví dụ kể trên cho thấy rằng: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể đem lại cho người dân một số quyền mới nào đó, nhưng có khi lại là những quyền hư ảo, trong khi những quyền bị cắt giảm thì lại rất thật, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo. Điều đáng buồn là: Xu hướng giả dối vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong việc xây dựng Hiến pháp.
 Quyền thoi quyền thóp
 Trong Điều 71 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.” (Điều 71, Đoạn 2)
Điều 71 được sửa thành Điều 22 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng toàn bộ quy định được trích ở trên (nhằm hạn chế việc bắt người tùy tiện và yêu cầu bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật) đã bị xóa. Trong thời gian qua, Hiến pháp đã quy định rõ ràng như vậy mà công an vẫn bắt người và giam giữ rất tùy tiện. Rồi đây, khi quy định ấy đã bị gạch khỏi Hiến pháp, thì số phận người dân sẽ ra sao?
 Trong Điều 74 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
“Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.” (Điều 74, Đoạn 2)
Điều 74 được sửa thành Điều 31 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng quy định vừa được trích (nhằm ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo) không còn nữa. Vốn dĩ, khiếu nại và tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm bất tận. Đến đại công thần của chế độ gửi kiến nghị cũng chẳng được hồi âm. Vậy thì sau này, khi ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo bị xóa khỏi Hiến pháp, Dân sẽ phải chờ đợi bao lâu?
 Đoạn thứ nhất trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.”
Khi điều khoản trên hóa thân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, 5 chữ và phải chịu hình phạt” bị loại bỏ. Thành thử chỉ còn sót lại như sau:
“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.” (Điều 32, Khoản 1)
Hệ quả kéo theo là: “Khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” thì “không ai bị coi là có tội”, song vẫn có thể phải chịu hình phạt. Ở các nước văn minh thì hiển nhiên không ai phải chịu hình phạt” khi chưa “bị coi là có tội”. Nhưng ở xứ sở bất an, nơi khi được công an “mời vào” đồn thì vẫn còn mạnh khỏe, mà lúc “tiễn ra” có thể đã liêu xiêu, thậm chí có trường hợp trở thành xác không hồn, thì việc triệt tiêu 5 chữ và phải chịu hình phạt sẽ giúp cho công an nhân dân thêm vô tư “luyện võ” với Nhân dân.
 Đoạn thứ hai trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
“Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.”
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, quy định này được sửa thành:
“Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.” (Điều 32, Khoản 4)
Nghĩa là: Từ “giam giữ” được thay bằng “tạm giữ, tạm giam”. Hậu quả là: Khi đã kết án tù giam và chuyển từ trạng thái tạm giữ, tạm giam” sang hình thức giam giữ” để chấp hành án, thì người tù không còn được bảo vệngười coi tù làm trái pháp luật không còn bị xử lý theo quy định của điều khoản sửa đổi.
 Ba nội dung bị loại bỏ được đề cập ở trên đều có chung một “tội” là: Chúng hay để Dân níu bám, nhằm tố cáo chính quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Có lẽ vì vậy nên phải “kết liễu” chúng, đẩy chúng ra khỏi Hiến pháp, để… giữ gìn uy tín cho chính quyền. Ngoài ra, hai quy định sau đây cũng đã bị loại bỏ khỏi dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
 Điều 64 về hôn nhân và gia đình trong Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 39 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại bỏ đi đoạn quy định về trách nhiệm nuôi dạy con của cha mẹtrách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cháu. Điều đó cũng có nghĩa là bỏ đi quyền của con cái được cha mẹ nuôi dạy quyền của ông bà, cha mẹ được con cháu chăm sóc.
 Điều 59 của Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 42 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng bỏ đi quy định:
“Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.”
Và nó được thay bằng một quy định chung chung trong Điều 66:
“Nhà nước… quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý…”
Vậy là, theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bậc tiểu học không còn hiển nhiên được miễn học phí.
 Quyền treo trên lửa
 Loài người từ khi sinh ra đã tồn tại và phát triển nhờ biết lợi dụng. Ban đầu thì sống nhờ săn bắt và hái lượm, tức là lợi dụng rừng và biển. Rồi tiến hành trồng cấy, tức là lợi dụng đất đai và ánh sáng mặt trời. Từ vận chuyển hàng hóa trên sông đến ngăn đập tạo ra thủy điện đều là lợi dụng sức nước. Từ căng buồm ra khơi đến tạo ra phong điện đều là lợi dụng sức gió
 Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thời cơ, khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại và chính quyền thuộc địa Pháp chưa kịp hồi sinh, để cướp chính quyền. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, đảng đã lợi dụng sự cưu mang, giúp đỡ và che chở của những người giàu có, để rồi khi chiếm được chính quyền lại đem bao ân nhân ra đấu tố… trong cải cách ruộng đất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam cũng đã lợi dụng tính mạng và của cải của Nhân dân cùng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để giành thắng lợi.
 “Lợi dụng” thuộc vào bản năng sống và hành động của con người. Vậy thì việc “lợi dụng” có gì sai? Lợi dụng điều kiện thuận lợi không thể bị coi là xấu, mà không lợi dụng điều kiện thuận lợi cũng chẳng phải là điều đáng để ngợi ca.
 Trong các nhà nước pháp quyền, hoạt động của toàn xã hội được điều tiết bằng pháp luật. Xã hội càng văn minh, càng đa dạng thì hệ thống pháp luật càng cồng kềnh và phức tạp. Dù cố gắng đến đâu đi nữa, thì vẫn luôn tồn tại những kẽ hở pháp lý và những quy định chồng chéo. Khi có kẽ hở thì công dân có quyền lách qua mà không hề vi phạm pháp luật. Khi tồn tại nhiều điều khoản chồng chéo, với những quy định khác nhau có thể áp dụng cho cùng một vụ việc, thì đương sự có quyền áp dụng điều khoản có lợi nhất cho mình. Vì vậy, ở một số nước phát triển cao vẫn công khai bày bán những cuốn sách về các mẹo tính thuế để giảm thuế. Những hành động như vậy không phải là tội lỗi, mà hoàn toàn hợp pháp.
 Ấy vậy mà ở CHXHCN Việt Nam lại có một loại tội gọi là tội lợi dụng…”. Kỳ khôi nhất là tội lợi dụng sơ hở của pháp luật…”. Nếu cần xử lý, thì trước hết phải xử lý những người đã tiêu tốn tiền của Dân mà tạo ra sơ hở pháp luật, chứ sao lại dồn hết trách nhiệm lên đầu những người lợi dụng sơ hở đó? Kiểu quy tội này cũng “hợp lý” như việc quan phụ mẫu mặc quần thủng… lên công đường, rồi lại phạt dân đen vì tội nhìn vào chỗ thủng.
 Hiến pháp 1992 có hai điều khoản cấm lợi dụng:
“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.” (Điều 70, Đoạn 3)
“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 74, Đoạn 4)
 Điều gì đáng nói ở đây? Như đã phân tích ở trên, riêng hành động “lợi dụng” thì không thể coi là tội, và vì vậy không thể cấm. Để mô tả những thứ cần cấmcó thể cấm trong hai điều khoản kể trên, thì chỉ cần viết gọn lại như sau là đã quá đủ:
“Không ai được… làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.”
“Nghiêm cấm việc… vu khống, vu cáo làm hại người khác.”
Nghĩa là bỏ đi hai đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáolợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo. Khi vi phạm các điều cấm vừa viết, thì dù “lợi dụng…” hay không cũng chẳng làm cho tội nặng lên hay nhẹ đi. Tức là, xét về mặt lô-gíc thuần túy thì các đoạn “lợi dụng… hoàn toàn thừa.
 Vậy thì, tại sao nhà cầm quyền vẫn cố tình cài thêm các đoạn “lợi dụng…” vào các điều khoản ấy?
 Phải chăng, đó là thủ đoạn pháp lý, nhằm hạn chế và cản trở những quyền con người và quyền công dân được gán sau từ “lợi dụng”?
 Chắc hẳn,mục tiêu mà họ nhắm tới là ngăn cản việc thực thi các quyền đó, chứ không phải những cái gọi là vi phạm, mà họ bám vào để kết tội. Từ lợi dụng” bị lạm dụng để bắc cầu, nhằm kết nối các quyền con người với các tội, để kiếm cớ phủ định các quyền chính đáng, rồi trấn áp và trừng trị những người thực thi các quyền đó.
 Ví dụ: Nếu ai đó thực thi “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (được quy định tại đoạn thứ nhất trong Điều 70 của Hiến pháp 1992), mà nhà cầm quyền không ưng, thì họ sẽ gán cho cái nhãn làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Rồi dùng từ “lợi dụng” để bắc cầu tín ngưỡng, tôn giáo” với cái vi phạm được ngụy tạo đó. Kết quả thu được là tội “lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Vậy là có thể vận dụng đoạn thứ ba trong Điều 70 của Hiến pháp 1992 và hệ quả của nó trong Bộ luật Hình sự (Điều 258) để trừng trị.
 Điều 70 và Điều 74 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi thành Điều 25 và Điều 31 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó vẫn duy trì hai khoản “cấm lợi dụng”:
“Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.” (Điều 25, Khoản 3)
“Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.” (Điều 31, Khoản 3)
 Đi xa hơn nữa, họ còn đưa thêm một điều khoản “cấm lợi dụng” hoàn toàn mới vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
“Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.” (Điều 16, Khoản 2)
Với bảo bối vạn năng này, tất cả các quyền con người và quyền công dân đều có thể bị cản trở. Cái nhãn xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” thì quá bao la và có thể dễ dàng ngụy tạo. Trên thực tế, họ cũng chẳng cần phải mất công tìm kiếm hay bày đặt chứng cớ, mà chỉ cần nhắm mắt đưa ra kết luận mang tính quy chụp.
 Những ai đã từng trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối hành động gây hấn của “bạn 16 chữ vàng”, diễn ra tại Hà Nội vào hai mùa hè 2011 và 2012, thì đều có thể nhận thấy rằng: Những người tham gia biểu tình rất ôn hòa và luôn chú ý giữ gìn trật tự công cộng, để công an không có cớ trấn áp. Nếu có hỗn loạn thì lại do chính những người mang danh lực lượng giữ gìn an ninh và trật tự cố ý gây ra. Thế nhưng, nhà cầm quyền vẫn vu cho những người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng để đàn áp. Đó là một trong những thủ đoạn đã được áp dụng trên thực tế để cản trở và trấn áp công dân thực thi quyền tự do biểu tình.
 Chưa hài lòng với cái lưới tà ma bao trùm kể trên, họ còn bổ sung một điều khoản cấm lợi dụng” sau đây vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
“Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan.” (Điều 64, Khoản 4)
Với quy định này, nhà cầm quyền có thêm phương tiện pháp lý để cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí
 Thủ đoạn lợi dụng… từ “lợi dụng” để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi là như vậy.
 Quyền nằm dưới dao
 Hiến pháp 1992 có một điều rất đặc biệt, đó là:
Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Đặc biệt ở chỗ nào? Nó quy định 6 quyền cơ bản của công dân, nhưng… trên thực tế thì tất cả 6 quyền ấy đều bị nhà cầm quyền cản trở.
 Ví dụ điển hình là quyền biểu tình. Với ràng buộc “theo quy định của pháp luật”, nhà cầm quyền có thể thông qua Quốc hội để ban hành luật, nhằm hạn chế quyền biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Nhưng hàng chục năm trôi qua, vẫn không xuất hiện một luật nào liên quan đến biểu tình. Nhiều người, kể cả giới cầm quyền, nhầm tưởng rằng: Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân chưa được phép biểu tình. Nhưng bài “Quyền biểu tình của công dân” đã chỉ ra rằng: Theo Hiến pháp hiện hành thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình. Nếu đã có luật về biểu tình thì công dân phải tuân theo ràng buộc của luật đó. Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân càng có quyền biểu tình, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật, tức là càng tự do.
 Điều 4 của Hiến pháp 1992 quy định rằng:
“Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
Căn cứ vào điều khoản này thì có thể nói rằng: Việc công dân biểu tình khi chưa có luật về biểu tình còn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của đảng. Tại sao lại chính đáng và hợp pháp hơn? Bởì vì “Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn Nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm.” Nhà nước được hiểu là “một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình”, nên ràng buộc kể trên đối với Nhà nước cũng có hiệu lực cho ĐCSVN. Hơn nữa, như ông Nguyễn Trung đã nhận định, Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị.”  Rõ ràng, Hiến pháp hiện hành không hề đề cập đến khuôn khổ hoạt động của đảng và cũng chưa có luật nào quy định về khuôn khổ đó, cho nên đảng cũng chưa có được những điều pháp luật cho phép” để mà được làm”, để mà “hoạt động”. Trong khi đó, quyền biểu tình của công dân được minh định trong Hiến pháp hiện hành và chưa có luật nào hạn chế quyền ấy, nên hiển nhiên là công dân có quyền biểu tình không hạn chế.
 Để ngăn cản và đàn áp biểu tình, chính quyền thường viện dẫn Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CPThông tư số 09/2005/TT-BCA (hướng dẫn thi hành nghị định đó). Nhưng bài Lực cản Nhà nước pháp quyền đã chỉ ra rằng:
-       Nghị định số 38/2005/NĐ-CPThông tư số 09/2005/TT-BCA vi phạm Hiến pháp và pháp luật;
-       Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân;
-       Dù bỏ qua hai khía cạnh vừa kể, thì lời văn của hai văn bản ấy cũng không cho phép áp dụng chúng để cản trở biểu tình yêu nước, như những cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2011 và 2012.
 Hẳn nhà cầm quyền đã nhận ra rằng: Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cho phép họ cản trở quyền biểu tình của công dân. Ban hành luật về biểu tình thì họ hoàn toàn không muốn, vì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa thì vẫn sẽ “lọt lưới” một số cuộc biểu tình. Vậy phải làm thế nào bây giờ?
 Lợi dụng thời cơ sửa đổi Hiến pháp, họ đã sửa Điều 69 của Hiến pháp 1992 như sau:
Điều 26: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
Điều gì thay đổi ở đây? Họ đã xóa hai từ có quyền” trước đoạn được thông tin” và trước đoạn “hội họp, lập hội, biểu tình”. Đồng thời, họ dùng chữ “được” (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ được thông tin”) thay cho hai từ “có quyền” ấy.  Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn có quyền” (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước “quyền”, và “quyền” bị hạ cấp xuống thành những thứ “được” ban phát. Mà “được… theo quy định của pháp luật” thì cũng có nghĩa là chỉ được… theo quy định của pháp luật”. Tức là công dân “chỉ được” ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành quy định của pháp luật”. Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành quy định của pháp luật”, thì Dân sẽ không được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.
 Đây là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm tước đoạt quyền được thông tin và các quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.
 Một điều khoản khác rất đáng lưu ý trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là:
“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.” (Điều 15, Khoản 2)
Điều khoản này là một sáng tạo pháp lý mới mẻ của các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam. Chữ “chỉ” tạo ra ảo tưởng rằng: Điều khoản này nhằm hạn chế những hoàn cảnh mà quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, tức là để bảo vệ các quyền đó. Thế nhưng hậu quả của nó thì ngược lại.
 Vốn dĩ, việc “quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn” không hề được đề cập đến trong Hiến pháp 1992. Nay điều này được nêu đích danh trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhằm hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân.
 Danh sách “lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân, bất cứ lúc nào mà họ muốn. Vì vậy, việc nhét chữ “chỉ” vào điều khoản ấy chẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà chỉ ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa ấy mà thôi.
 Điều khoản kể trên quy định rằng “quyền con người, quyền công dân… có thể bị giới hạn”, nhưng lại không viết rõ ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.
 Như vậy, Điều 15, Khoản 2 cũng là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm thu hẹp quyền con người và quyền công dân.
 Hai ví dụ kể trên nhắc nhở mọi người phải hết sức cảnh giác với những bẫy pháp lý đã được cài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
 Giữ chút quyền Dân
 Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã đề nghị một quan điểm, một nguyên tắc, đó là:
Thành tựu của Hiến pháp 1992 cần được bảo vệ và tiếp tục phát huy, đặc biệt nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy các quyền tự do cơ bản của nhân dân trên mọi mặt. Do đó, chỉ nên sửa đổi Hiến pháp 1992 nếu phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ, chú trọng đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế, nhờ thế tạo động lực mạnh mẽ hơn cho giai đoạn cách mạng mới. Nếu không làm được như vậy thì không nên sửa lặt vặt.”
Tiếc rằng, đề nghị hợp lý và sáng suốt này chưa được phản ảnh đúng mức trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Không phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ”, như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, mà ngược lại, dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cắt giảm nghiêm trọng quyền con người và quyền công dân.
 Dân không quan tâm nhiều đến việc ghế lãnh đạo được hoán vị ra sao và quyền lực được chia lại thế nào. Họ đủ thông minh để hiểu rằng: Những tiến bộ được tung hô, như việc bỏ hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, có thể là một bước tiến trong tư duy của giới lãnh đạo và giới lý luận, nhưng sẽ chẳng tác động mấy đến thực tế cuộc sống. Khi không còn được gán cho vai trò chủ đạo, thì thành phần kinh tế nhà nước sẽ được giũ bớt trách nhiệm đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng lại vẫn tiếp tục được hưởng mọi sự o bế và ưu tiên. Đó là lãnh địa lý tưởng cho tham nhũng, là đại lộ thông thoáng để tuồn tài sản toàn dân vào túi các quan tham.
 Dân quan tâm nhất là các quyền lợi thiết thân, trong đó có quyền sở hữu đất đai.
 Như đã trao đổi trong bài “Hai tử huyệt của chế độ”, quy định trong Hiến pháp 1992 về quyền lãnh đạo mặc nhiên của ĐCSVN (Điều 4) và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17) là hai vấn đề tồn tại then chốt. Chúng phải được khắc phục sớm, vì Dân, vì Nước và cũng vì chính ĐCSVN. Thế nhưng, hai quy định này vẫn được dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo lưu, trong khi quyền con người và quyền công dân lại bị thu hẹp đáng kể.
 Đối với Dân, Hiến pháp kiểu này có thể trở thành bãi mìn pháp lý. Nếu dự thảo như vậy được thông qua, thì Hiến pháp có thể không còn là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Nhà nước và xã hội, mà trở thành cái gông cùm Nhân dân và Dân tộc.
 Chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện cái tâm tầm của các tác giả, không chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia soạn thảo, mà kể cả những vị ngồi trên cao để chỉ đạo và áp đặt. Nếu chỉ hạn chế về tầm, tức là do trình độ hay do sơ suất, thì Nhân dân có thể góp ý để bù lại. Nhưng những ví dụ được đề cập ở trên cho ta ấn tượng là: Những thay đổi theo hướng tiêu cực trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tiến hành một cách có chủ ý và được tính toán kỹ lưỡng. Thậm chí, họ đã vận dụng cả những thủ thuật và thủ đoạn pháp lý tinh vi để thực hiện và che đậy mục đích đó. Khi tâm đã như vậy, thì liệu việc góp ý của Nhân dân có đủ để lay chuyển được quyết tâm sắt đá của họ hay không? Thật khó mà tin rằng họ có thể sữa chữa bản dự thảo để đưa ra một Hiến pháp thực sự tử tế với Dân.
 Vì vậy, để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, thì nên tạm dừng việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Hãy đợi đến một thời điểm thuận lợi hơn, khi tầm đã đủ cao và tâm đã đủ ổn, rồi hãy thay đổi Hiến pháp một cách căn bản, theo chiều hướng tiến bộ, để có được một bản Hiến pháp thể hiện ý nguyện của Dân, do Dân và vì Dân.
  Hà Nội, 15/01/2013

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Hai tử huyệt của chế độ

Hoàng Xuân Phú
phu-2005Aug-a Có lẽ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) quan niệm rằng:
-  Quy định về quyền lãnh đạo của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội, và
-  Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dândo Nhà nước quản lý
tại Điều 4 và Điều 17–18 của Hiến pháp 1992hai tử huyệt của chế độ. Vì vậy, dư luận càng muốn hủy bỏ hoặc sửa đổi hai quy định đó, thì họ càng kiên quyết bảo lưu. Chúng nằm trong định hướng bất di, bất dịch của lãnh đạo đảng, và được tái thể hiện tại Điều 4 và Điều 57 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.
 Tử huyệt độc quyền lãnh đạo
 Trong thế giới văn minh, quyền lãnh đạo đất nước của một đảng chính trị chỉ có thể giành được thông qua tranh đấu và bầu cử dân chủ. Kể cả khi đang cầm quyền, đảng vẫn phải phấn đấu liên tục, để thuyết phục Nhân dân tin tưởng và tiếp tục trao cho quyền lãnh đạo.
 Không thể lấy công lao trong một giai đoạn quá khứ để bù lại cho hiện tại yếu kém, với bao sai lầm, tội lỗi, và áp đặt cho cả tương lai vô định. Nếu cứ từng có công là được cầm quyền vĩnh viễn, thì ĐCSVN phải trả lại chính quyền cho triều đình nhà Nguyễn, và triều đình nhà Nguyễn lại phải trả lại chính quyền cho các triều đình trước đó. Thế là khởi động cho một quá trình truy hồi dằng dặc, mà không thể tìm được điểm kết thúc. Hơn nữa, thời gian qua đi, giờ đây nắm quyền lực bao trùm đất nước lại là những người vốn chỉ đi theo hoặc ăn theo cách mạng, hay từng được cách mạng o bế và cưu mang mà thôi. Nếu họ từng có công, thì chưa chắc bù nổi những lỗi lầm đã gây ra. Phần lớn những người có công đáng kể, những công thần của chế độ, đã qua đời, hoặc nếu còn sống thì đã về hưu, và có lẽ đang đau lòng vì phải chứng kiến sự nghiệp cách mạng của thế hệ mình bị phản  bội.
 Không thể coi quyền lãnh đạo đất nước của bất kỳ đảng phái nào là đương nhiên, và vì vậy không thể ghi điều đó vào Hiến pháp. Vả lại, nếu quyền đó đã là đương nhiên, được mọi người mặc nhiên thừa nhận, thì cũng chẳng cần ghi vào Hiến pháp làm gì, để khỏi gây phản cảm một cách không cần thiết. Nếu một điều không phải là đương nhiên và không được tất cả mọi người thừa nhận, mà vẫn bất chấp, áp đặt bằng được trong Hiến pháp, thì chỉ riêng việc làm đó đã khắc họa xong tính dân chủ và tính hợp pháp của đảng và chế độ.
 Nếu ĐCSVN được đa số Nhân dân tin cậy và ủng hộ, thì bất cứ cuộc tổng tuyển cử dân chủ nào cũng đưa lại một kết quả tất yếu, đó là trao cho đảng quyền lãnh đạo đất nước. Cho nên, khi khẳng định rằng “bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”, thì có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận thực trạng tệ hại của đảng, khiến đa số Nhân dân không thể đồng tình ủng hộ và chắc chắn sẽ không bầu cho đảng. Nếu nghĩ là mình không còn xứng đáng, không còn được đa số Nhân dân tín nhiệm, mà vẫn dùng Hiến pháp để áp đặt bằng được vai trò lãnh đạo, thì có còn tử tế và vì Dân nữa hay không?
 Con người muốn tồn tại và phát triển thì không thể khước từ thử thách, không thể lẩn tránh đối đầu. Ngược lại, phải chấp nhận thử thách, vượt qua thử thách mà vươn lên. Nếu một đứa trẻ luôn được o bế trong căn nhà vừa được vô trùng, vừa được điều hòa nhiệt độ một cách tuyệt đối, thì sẽ dễ bị đổ bệnh khi ra khỏi cửa. Nếu con cái được bố mẹ quá bao cấp, kèm cặp từng li từng tí, thì sẽ dễ ngã gục khi bước vào cuộc sống tự lập trong xã hội. Để tránh bệnh tật, hàng tỷ người trên thế giới chấp nhận tiêm vắc-xin, nhằm phát triển khả năng miễn dịch, tức là chủ động đưa cơ thể mình vào trạng thái thử thách. Muốn khỏe, con người không thể ỳ ra, mà phải thường xuyên khổ luyện dưới hình thức thể dục. Không có cạnh tranh, không có thi đua (thực chất), thì con người không thể khá lên được.
 Không chỉ từng cá thể, mà cả quần thể, với tư cách tổ chức, đảng phái, hay cả xã hội, cũng phải biết đương đầu với thử thách. Vì biết tận dụng cuộc cạnh tranh giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới để tự hoàn thiện, để giành phần thắng trong cuộc chiến tranh lạnh, nên các nước tư bản hàng đầu đã phát triển vượt bậc, không chỉ về kinh tế, khoa học và công nghệ, mà cả về dân chủ và phúc lợi xã hội, cũng như về quyền con người.
 Ngược lại, các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã xử lý sai tình huống và quan hệ địch ta. Nhìn đâu cũng thấy địch, kể cả trong Dân, nên nhiều khi đối xử với Dân cũng giống như với địch, khiến dần dần mất Dân. Ỷ thế vào cường quyền, Đảng Cộng sản Liên Xô đã đầu têu trong việc cấm đảng phái khác hoạt động, để rồi sau này ĐCSVN cũng nối gót sai lầm. Các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa đảng, nhưng cũng chỉ là hình thức. Dân chủ xã hội và quyền con người bị bóp nghẹt, khiến tinh thần và trí tuệ cũng bị lụi tàn. Tưởng rằng như vậy thì các đảng cộng sản sẽ rảnh tay, có thể tập trung lực lượng chiến đấu với kẻ thù chính ở hệ thống bên kia, nhưng kết quả thì ngược lại. Kinh tế suy sụp, lòng Dân ly tán, khiến hệ thống chính trị được dày công xây dựng suốt hơn nửa thế kỷ bị phá từ trong phá ra, đổ rụp trong chốc lát, làm cho đối thủ cũng bị bất ngờ đến ngỡ ngàng.
 Họa đôi khi cũng là phúc, nếu biết rút ra bài học hợp lý từ thảm họa. Nếu quay ra chấp nhận cạnh tranh một cách dân chủ trong xã hội đa đảng, đa nguyên, ĐCSVN sẽ buộc phải lựa chọn những người lãnh đạo thuộc loại ưu tú nhất, và chắc chắn sẽ chọn được hàng ngũ lãnh đạo tốt hơn gấp bội lần so với đội hình đương nhiệm, kể cả tài lẫn đức. Mọi phần tử thoái hóa, tham nhũng sẽ bị vạch trần và bị đào thải. Trong ba triệu đảng viên không thiếu người tài, người tốt. Vấn đề là phải dùng dân chủ để giải phóng tiềm năng bị độc quyền giam hãm bấy lâu. Không chỉ dựa vào nội lực, dân chủ xã hội còn cho đảng thêm cả sức mạnh từ ngoài đảng. Nếu đảng cầm quyền không tự nhận ra tồn tại yếu kém của mình, thì các đảng đối lập cũng sẽ vạch ra cho. Chẳng cần đến những nghị quyết vô dụng, những màn kịch phê bình – tự phê bình giả dối và lố bịch, thì ĐCSVN vẫn có thể vươn lên, tốt hơn hẳn hiện tại, để được Nhân dân tin tưởng mà trao quyền lãnh đạo.
 Tiếc rằng, lãnh đạo của ĐCSVN lại phản ứng như gã tài xế ù lì, chỉ biết nghiến răng tăng ga, khi cỗ xe đang lao xuống đầm lầy. Một mặt, đảng càng suy sụp thì họ càng bóp nghẹt dân chủ trong đảng, dân chủ trong xã hội, và càng hạn chế quyền con người, nhằm duy trì quyền lực bằng bạo lực. Mặt khác, giới cầm quyền tranh thủ tham nhũng, đua nhau vơ vét, tước đoạt cả tài sản của Dân. Chính họ, chứ không phải thế lực thù địch nào khác, đã và đang phá nát ĐCSVN. Trạng thái độc đảng đã triệt tiêu sức chiến đấu và bản năng sống lành mạnh của đảng. Buông thả trong thế độc quyền, ĐCSVN đang tự tha hóa, tự hủy diệt, như cỗ xe không phanh, lao xuống dốc, hướng thẳng tới vực thẳm.
 Có ý kiến đề xuất tăng cường dân chủ trong nội bộ đảng để bù lại, để tự gột rửa và điều trị căn bệnh ung thư đã bước sang giai đoạn di căn. Nhưng không thể tồn tại dân chủ trong một đảng độc quyền. Chỉ có dân chủ ngoài xã hội mới thúc đẩy dân chủ trong đảng, chứ không phải ngược lại.
 Khước từ dân chủ xã hội, trong đó có thể chế đa đảng, ĐCSVN không chỉ gây thêm thù oán với Dân, mà còn tự tước bỏ khả năng đề kháng và hy vọng chữa trị căn bệnh nan y của chính mình. Sự bảo thủ kiêu ngạo đã bịt mắt giới lãnh đạo, khiến họ cố tình làm ngơ trước thực tế là: Đảng Nhân dân Camphuchia, một đảng từng được ĐCSVN nâng đỡ và phải đương đầu với hoàn cảnh khó khăn gấp bội, vẫn có thể giữ được quyền lãnh đạo đất nước thông qua bầu cử, mà không cần phải bức hại đa nguyên, không cần phải cưỡng bức Hiến pháp.

Cần phải nói thêm rằng: Quy định ĐCSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không có nghĩa nó là lực lượng lãnh đạo duy nhất, càng không phải là đảng duy nhất được phép tồn tại. Do đó, kể cả khi duy trì Điều 4 của Hiến pháp 1992, thì việc ngăn cấm các đảng phái chính trị khác thành lập và hoạt động là vi phạm quyền tự do hội họp, lập hội, được quy định tại Điều 69, Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 Tử huyệt sở hữu toàn dân về đất đai
 Hiến pháp 1946 không đề cập đến đất đai. Hiến pháp 1960 chỉ quy định đất hoang thuộc sở hữu của toàn dân. Nhưng Hiến pháp 1980Hiến pháp 1992 thì quy định (toàn bộ) đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
 “Sở hữu toàn dân” lại có nghĩa là chẳng người dân nào có quyền sở hữu. Trớ trêu thay, nhân danh “sở hữu toàn dân” để tước đi quyền sở hữu của toàn dân. Những mảnh đất vốn dĩ có chủ, được khai hoang, được trao đổi, mua bán, hay được thừa kế hợp pháp từ bao đời, nay bỗng nhiên trở thành vô chủ. Bộ máy cầm quyền, vốn dĩ chẳng có gì, mà nay lại chiếm được tất cả, trong đó có quyền quyết định về đất đai trong cả nước.
 Để vận động hàng chục triệu nông dân giúp đỡ cướp chính quyền, ĐCSVN đã giương khẩu hiệu “dân cày có ruộng”. Chữ “có ruộng” ở đây đương nhiên là “sở hữu ruộng đất”, chứ không phải chỉ là “có quyền sử dụng đất”. Sau khi giành được chính quyền ở miền Bắc, đảng đã lấy ruộng của người giàu chia cho người nghèo, rồi tiếp đó lại vận động nông dân góp ruộng để làm ăn tập thể, trong mô hình hợp tác xã nông nghiệp. Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, lãnh đạo ĐCSVN quyết định quốc hữu hóa đất đai, dưới hình thức “sở hữu toàn dân”. Nếu biết trước kết cục sẽ mất đất như vậy, liệu hàng triệu người có còn theo đảng, giúp đảng giành chính quyền nữa hay không?
 Khi chính quyền tử tế, có khả năng sử dụng đất đai một cách vô tư, hợp lý và công bằng, thì sở hữu toàn dân về đất đai có thể tạo ra một sức mạnh cộng hưởng để xây dựng đất nước. Và người dân có thể tự an ủi rằng mình hy sinh bớt lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích cộng đồng, trong đó có cả bản thân và gia đình mình. Nhưng khi chính quyền tham nhũng thì sở hữu toàn dân về đất đai gây ra đại họa, không chỉ làm khổ muôn dân, mà phá nát cả chính quyền. Chỉ mất mấy giây hạ bút, kẻ mang danh “công bộc” đã có thể vơ về cả đống tiền của, mà một người lao động chân chính lăn lộn cả đời cũng không kiếm nổi. Chỉ với mấy chữ ký loằng ngoằng của mấy kẻ có chức quyền, hàng trăm, hàng ngàn người dân đã bị tước mất đất đai, nơi họ đang làm ăn, sinh sống, trở thành dân oan, lang thang khiếu kiện khắp nơi. Càng duy trì sở hữu toàn dân về đất đai, thì càng gia tăng oán hận của Dân, càng sinh sôi tham nhũng trong tầng lớp lãnh đạo, và càng đẩy nhanh quá trình tự hủy diệt của chế độ.
 Bộ máy cầm quyền đầy ắp những kẻ tha hóa, cấu kết với bao kẻ vốn đã lưu manh từ trước khi chen chân vào chốn quan trường. Cái thứ “sở hữu toàn dân” ngon lành và dễ ăn như thế, làm sao kìm nổi lòng tham? Có thể những người đã no nê cũng tán thành tư nhân hóa đất đai, vừa giũ bỏ được cái nguồn kiếm chác béo bở đã trở thành “của nợ”, vừa có được quyền sở hữu vĩnh viễn cho số đất đai đã thu gom bấy lâu. Nhưng những vị còn chưa thấy đủ no và những kẻ kế cận đang mong chờ đến lượt mình được vơ vét thì lại không dễ buông tha.
 Muốn nuốt thì hóc, mà muốn nhả ra cũng không hề dễ. Tư nhân hóa đất đai thế nào? Trao quyền sở hữu cho ai và trao bao nhiêu? Khi còn là sở hữu toàn dân thì chủ đất cũ đành chịu lặng thinh. Nhưng khi mảnh đất vốn của mình lại được giao cho một người lạ hoắc sở hữu, thì chủ cũ đâu dễ chịu ngồi im. Đất đai vốn dĩ nằm trong trạng thái phân bổ tương đối ổn định và hợp lý về mặt lịch sử, mấy chục năm qua bị đẩy vào tình trạng hỗn loạn. Nếu bây giờ muốn sửa chữa sai lầm, lập lại trật tự, thì lại quá khó. Hoàn cảnh thực tại giống như gã phàm ăn nuốt phải lưỡi câu: Nuốt tiếp thì vướng cước và có thể bị chọc thủng dạ dày, mà lôi ra thì móc vào cổ họng.
 Thách thức vượt quá năng lực tư duy và hành động của những đầu óc u mê, trí tuệ giáo điều. Biết làm gì ngoài việc câu giờ, dồn hậu họa lên đầu những người kế nhiệm?
 Quả là rất khó để thoát ra khỏi tình trạng sa lầy về sở hữu đất đai. Sai lầm càng lớn thì khắc phục càng khó. Song lãnh đạo ĐCSVN cần xác định rằng họ có trách nhiệm giải thoát Dân tộc ra khỏi bãi lầy, mà chính đảng đã đẩy Dân tộc xuống. Nếu biết huy động trí tuệ của Dân tộc và tạo được sự đồng thuận của Nhân dân, thì khó mấy cũng làm được. Cách làm như thế nào không phải là chủ đề trao đổi của bài này.

*
*      *
 Quy định trong Hiến pháp về quyền lãnh đạo đương nhiên của ĐCSVN đối với Nhà nước và xã hội tưởng để đảng trường tồn, nhưng lại là điều khoản khai tử của ĐCSVN, khai tử khỏi lòng Dân và khai tử khỏi cuộc sống chính trị.
 Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý như cỗ máy khổng lồ, từng phút từng giờ đùn ra hàng đống thuốc nổ, nén chặt vào lòng Dân. Nó giống loại ma túy cực độc, có thể thỏa mãn cơn nghiện tham lam vô biên của giới cầm quyền, nhưng cũng tăng tốc quá trình tự hủy diệt của ĐCSVN và chế độ do đảng dựng nên.
 Vì vậy, nếu muốn bảo vệ ĐCSVN và chế độ này, thì cần phải nhanh chóng loại bỏ hai quy định đó ra khỏi Hiến pháp.
 Ngược lại, nếu muốn gạt bỏ sự lãnh đạo của ĐCSVN, thì có thể sẽ sớm được toại nguyện, nếu tiếp tục duy trì hai quy định ấy trong Hiến pháp, bởi lẽ không có cách phá nào nhanh hơn là tự phá.

Đảng - Nhà nước - Hiến pháp

Đảng – Nhà nước – Hiến pháp

Vài suy nghĩ v sa đi Hiến pháp 1992
nguyen-trung Nguyễn Trung
NQL:Chủ nhiệm UB Pháp luật QH Phan Trung Lý, Trưởng ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 khẳng định với báo giới ( Tại đây): “Không có điều gì cấm kỵ khi nhân dân góp ý sửa Hiến pháp”. Ông còn nhấn mạnh: “”nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả”. Theo nguyên tắc đó, hôm qua Quêchoa đã đăng bài Hai tử huyệt của chế độ của TS Hoàng Xuân Phú ( tại đây). Và hôm nay là bài của bác Nguyên Trung.
 I. Đảng và Nhà nước
          Trong thực tiễn đời sống của hệ thống chính trị nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kể từ khi Việt Nam là một quốc gia độc lập thống nhất cho thấy Đảng Cộng Sản Việt Nam – với đòi hỏi tự đặt cho mình là phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng – đã và đang là người nắm quyền lực toàn diện và tuyệt đối mang tính độc quyền toàn trị đối với quốc gia.
Cùng với sự trói buộc của ý thức hệ và sự tha hóa trong thời bình, sự lãnh đạo của Đảng mang tính độc quyền toàn trị như thế trên thực tế đã biến dạng thành sự cai trị, Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị. Sự tha hóa này khiến Đảng với danh nghĩa là đội ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động… trở thành đảng thống trị.
Với vị thế và quyền lực như vậy của ĐCSVN, Nhà nước trở thành công cụ thực thi quyền lực và quyết định của Đảng, Hiến pháp trở thành công cụ hợp thức quyền lực và việc làm của Đảng. Để biện hộ cho hệ thống chính trị như vậy của đất nước, Hiến pháp 1992 xác định đấy là nhà nước pháp quyền định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thiết kế như thế ngay trong Hiến pháp 1992, Đảng được đặt ở vị trí đứng trên Hiến pháp và trên nhà nước. Đây chính là nội dung cơ bản của Điều 4 trong Hiến pháp 1992. Trong một quốc gia với hệ thống chính trị như thế hoàn toàn không có không gian cho tiêu chí quyết định số một của nhà nước pháp quyền, đó là: Hiến pháp là quyền lực tối thượng.
Đem so sánh một bên là quyền lực mà Đảng giành cho mình[1] và được luật hóa trong Điều 4, và một bên là những được/mất trong quá trình phát triển mọi mặt của đất nước trong 37 năm độc lập thống nhất, đặc biệt là so với thực trạng nguy hiểm của đất nước hôm nay, vai trò lãnh đạo và phẩm chất của Đảng đối chiếu ngay với Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng, cũng như so với chính Điều 4, kết quả rõ ràng không như Đảng đã cam kết với đất nước: Đảng không làm được nhiệm vụ tiên phong và lãnh đạo với đúng nghĩa, mà chủ yếu chỉ thực hiện được vai trò của người có quyền thống trị. Uy tín của Đảng cũng như lòng tin của nhân dân vào Đảng vì thế theo thời gian chưa bao giờ giảm sút như ngày nay. Như thế tự mình, Đảng đã không thực hiện nổi nhiệm vụ của mình như đã ghi cho mình trong Điều 4. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phải nhận định sư hư hỏng của Đảng hiện nay đã đến mức thách thức sự tồn vong của Đảng và của hệ thống chính trị.
Với thực tế của cuôc sống đất nước 37 năm nay như vậy, và với nhận định của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng về thực trạng tha hóa hiện nay như vậy của Đảng, xin hỏi: Điều 4 còn lý lẽ gì để tồn tại? 
Điều 4  trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi lần này được chỉnh sửa chút ít, đó là Đảng “chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.
Đọc lại tất cả các văn bản Đại hội Đảng từ Đại hội IV (1976), có lúc nào Đảng không nhấn mạnh chịu sự giám sát của nhân dân, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình… Trong toàn bộ hoạt động của Đảng kể từ khi thành lập, có lúc nào Đảng không cam kết trách nhiệm của mình trước đất nước, trước nhân dân? Sự cam kết trách nhiệm như vậy chính là tiền đề và là lẽ tất yếu cho sự ra đời và tồn tại của Đảng, vì thế nó không cần và không phải chờ đến khi phải được đưa vào Hiến pháp mới được thực hiện. Vì thế lúc nào cũng chỉ có vấn đề Đảng thực hiện được hay không cam kết của mình đối với đất nước mà thôi.
Nhìn nhận kết quả đợt vận động tự phê bình và tự phê bình được phát động từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và sự xin lỗi chân thành của Bộ Chính trị trước nhân dân mà cả nước đã được nghe, hiển nhiên sẽ thấy: Việc bổ sung thêm chi tiết nói trên vào Điều 4 hoàn toàn không có khả năng xoay chuyển tình thế đất nước, bởi vì tư duy và đường lối của Đảng, hệ thống chính trị hiện hành, vị thế độc quyền toàn trị của Đảng đứng trên tất cả còn nguyên vẹn.
Chi tiết bổ sung như thế vào Điều 4 chỉ chứng minh: Đảng quyết cố thủ.
Hiến pháp 1992 có nhiều Điều, Khoản đúng, tốt về các quyền công dân cơ bản – như quyền sở hữu, các quyền về tự do, dân chủ và quyền con người…, về các quyền và nghĩa vụ của các bộ phận thuộc hệ thống nhà nước,  vân vân…
Tuy nhiên, thực tế là hầu hết những Điều, Khoản đúng và tốt này không được và không thể thực thi, hiện tượng vi hiến ngày càng nhiều và nghiêm trọng trong đời sống đất nước ở mọi cấp và mọi nơi; chủ yếu vì các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
(a)  Hiến pháp có một số Điều được thiết kế không dứt khoát.
(b) Có một số Điều và Khoản trên thực tế là ngược hay phủ định nhiều Điều và Khoản khác trong Hiến pháp, hoặc gần như là phủ định toàn bộ Hiến pháp – trước hết chính là Điều 4, những Điều và Khoản về đất đai (rõ nét nhất là vấn đề “quyền sở hữu toàn dân” về đất đai…), về kinh tế quốc doanh… Đấy là nói về nội dung Hiến pháp 1992.
(c)  Ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân thứ 3 vô cùng quan trọng và quyết định hàng đầu, đó là hệ thống quyền lực không coi trọng Hiến pháp, và ngay từ đầu trong hành động thực tế là bác bỏ nguyên tắc Hiến pháp là quyền lực tối thượng của quốc gia, chỉ sử dụng Hiến pháp ở những chỗ và những lúc khi quyền lực cần..
Trong tình hình như vậy, nếu không có các chi tiết bổ sung cho Hiến pháp 1992 sửa đổi đủ sức mạnh khắc phục cả 3 nguyên nhân nói trên, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sẽ trở nên vô nghĩa.
Và rõ ràng không có phép lạ nào viết ra được những chi tiết bổ sung có đủ sức mạnh như thế, ngoài việc viết ra Hiến pháp mới.
Giả định rằng có phép lạ viết ra được Hiến pháp mới hoàn hảo đến tuyệt đỉnh, song vẫn giữ nguyên Đảng với tư duy, tổ chức, vị thế, quyền lực, cùng với bộ máy chuyên chính tinh thần và bộ máy chuyên chính bạo lực của nó hiện nay như thế trong quốc gia, trong hệ thống nhà nước, trong kinh tế và trong đời sống văn hóa – xã hội.., gọi tất cả những thứ này dưới một cái tên chung tổng hợp là hiện tượng “đảng hóa”, Hiến pháp mới cũng sẽ chỉ có giá trị trang trí.
Có thể kết luận ngay: Sửa đổi Hiến pháp dù có thể làm tốt thế nào đi nữa, mà Đảng vẫn giữ nguyên đảng hóa và không thay đổi, sẽ vô ích.
Khi còn đương chức, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người nhiều lần phê phán kịch liệt hiện tượng đảng hóa như thế. Sự phê phán này tổng hợp nhất và rõ nét nhất được nêu trong bức thư ngày 09-08-1995 gửi Bộ Chính trị.
Trong thư này, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đặt vấn đề: (1) phải nhìn nhận lại thế giới, (2) phải đánh giá lại đường lối phát triển đất nước, (3) phải xây dựng nhà nước pháp quyền, (4) phải xây dựng lại Đảng về đường lối và về tổ chức. Cả 4 đòi hỏi nêu trong thư này đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị và mức độ bức xúc khẩn thiết của nó.
Những năm cuối đời, Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã dành hết tâm huyết mình nhiều lần viết và nói trực tiếp với từng ủy viên Bộ Chính trị và toàn thể Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN, và nói với toàn dân: Phải từ bỏ mọi thứ chủ nghĩa, Đảng phải tự lột xác để trở thành đảng của dân tộc. 
Nhân việc nhắc đến bức thư quan trọng này, xin cho phép hỏi trực tiếp trên ba triệu đảng viên của Đảng hôm nay: “Đảng CSVN hôm nay có còn cách nào phục vụ lợi ích quốc gia tốt hơn không? Có đảng viên nào hôm nay dám nói mình yêu Đảng, bảo vệ Đảng hơn đảng viên Võ Văn Kiệt không?”
Nếu lãnh đạo Đảng và Nhà nước hiện nay thành tâm mong muốn sửa đổi Hiến pháp lần này để cứu Đảng, cứu nước, nhất thiết phải đặt vấn đề cải cách thay đổi Đảng gắn kết hữu cơ với việc sửa đổi Hiến pháp trong tổng thể nhiệm vụ cải cách chính trị canh tân đất nước, đúng với tinh thần và nội dung như vừa trình bầy trên.
  
II
          Sau 27 năm đổi mới, kinh tế đất nước đã hoàn thành thời kỳ phát triển ban đầu – thời kỳ phát triển theo chiều rộng.  Song hiện nay, vì nhiều sai lầm và những yếu kém nhiều mặt trong quá trình phát triển này, nhất là những sai lầm trong đường lối lãnh đạo đất nước của Đảng và sự tha hóa của hệ thống chính trị, kinh tế nước ta chưa hội đủ mọi điều kiện phải có, để sẵn sàng đi vào thời kỳ phát triển mới cao hơn: Thời kỳ phát triển theo chiều sâu.
Từ 5 năm nay đất nước lại lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội toàn diện, đất nước chưa bao giờ đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức bức xúc như bây giờ, nhất là trong một thế giới đang bước vào một thời kỳ phát triển mới với nhiều diễn biến khó lường..
Việc Trung Quốc đang trở thành siêu cường tác động nghiêm trọng vào trật tự thế giới hiện hành, và đồng thời thách thức gay gắt tất cả các nước láng giềng. Nhiều tác động tiêu cực của siêu cường đang lên Trung Quốc đang gây ra những vấn đề phức tạp mới như giành giật thị trường, vi phạm luật chơi chung, lôi kéo và tập hợp lực lượng (bao gồm cả chính trị, tôn giáo, sự can thiệp của quyền lực mềm…)… trong nhiều khu vực trên thế giới, lại trong thời kỳ tình hình thế giới đi vào một thời kỳ phát triển mới phức tạp, do đó hiện tượng siêu cường Trung Quốc đang lên trở thành vấn đề của cả thế giới trên nhiều phương diện. Đặc biệt là tính xung đột quyền lực siêu cường mang tịnh văn hóa Đại Hán tập trung vào khu vực châu Á, nhất là Đông Nam Á, vấn đề Trung Quốc càng trở nên đặc biệt nhạy cảm và nguy hiểm, nhất là đối với các nước nhỏ trong khu vực.
Với tính cách là chướng ngại vật tự nhiên đầu tiên nhất thiết phải khuất phục đối với siêu cường Trung Quốc trên đường của nó vươn ra Biển Đông, Việt Nam là nước bị uy hiếp nghiêm trọng nhất. Và chưa thể nói lãnh đạo của đất nước đã lường hết mọi nguy hiểm của sự uy hiếp này, thậm chí có không ít biểu hiện lúng túng, khiếp nhược.., càng không thể nói lãnh đạo của đất nước đã sẵn sàng phát huy tối đa sức mạnh toàn dân tộc trước thử thách mất còn này đối với đất nước…
Trong khi đó đất nước đang có nhiều khó khăn hiểm nghèo: Kinh tế khủng hoảng cơ cấu sâu sắc chưa có lối ra;  những bức xúc và bất công xã hội vì tự do dân chủ bị đàn áp khiến lòng dân ngày càng phân tán; những lúng túng, không nhất quán hay không rõ ràng trong đối sách của lãnh đạo đối với Trung Quốc càng làm cho nhân dân mất tin tưởng; Đảng lãnh đạo lại ở trong thời kỳ thoái hóa nghiêm trọng nhất trong lịch sử của mình về chính trị và tính tiền phong chiến đấu, và hệ thống chính trị đang tha hóa trầm trọng.
Có thể nói sau 37 năm độc lập thống nhất, chưa bao giờ đất nước lâm nguy như bây giờ, Đảng yếu kém như bây giờ.
Giải quyết những khó khăn nội tại để mở ra một thời kỳ phát triển cho đất nước, tạo sức mạnh đối xử thành công mối quan hệ với Trung Quốc với tư cách nước ta là một đối tác được tôn trọng chứ không phải là một nước lệ thuộc hay một chư hầu kiểu mới, nhất là để Việt Nam không một lần nữa và vĩnh viễn không bao giờ trở thành chiến địa cho sự tranh hùng của các siêu cường, nắm bắt cơ hội chưa từng có trong bối cảnh quốc tế hôm nay làm cho Việt Nam hưng thịnh trở thành một thành viên tích cực của cộng đồng quốc tế dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ, vì hạnh phúc và phát triển của chính quốc gia mình và của cả thế giới… Làm sao Việt Nam có thể thực hiện được những nhiệm vụ sống còn và có ý nghĩa vô cùng trọng đại ấy, nếu đất nước không có một thể chế chính trị dân chủ, thực hiện được hòa giải đoàn kết dân tộc, phát huy tối đa sức mạnh dân tộc, tranh thủ được sự hậu thuẫn của tất các các quốc gia, các lực lượng tiến bộ trên thế giới – kể cả trong lòng nhân dân Trung Quốc?
Tất cả những vấn đề nghiêm trọng sống còn đối với đất nước vừa trình bầy trên làm sao xử lý thành công được, nếu đất nước không có một thể chế chính trị dân chủ, thực hiện được hòa giải đoàn kết dân tộc, để cả nước làm được những việc phải làm, cho bây giờ và cho mãi mãi về sau?
Tất cả những vấn đề nghiêm trọng sống còn vừa nêu trên chẳng lẽ không mảy may liên quan đến việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay?
Chẳng lẽ ĐCSVN hôm nay không còn đủ tính tiền phong chiến đấu, để nhận thức được những vấn đề sống còn như thế đang đặt ra cho đất nước, không có trí tuệ và ý chí bắt tay vào nhiệm vụ phải làm như Đảng đã từng làm khi tiên phong khai phá con đường cứu nước?
Đảng phải tìm cho mình câu trả lời: Làm hay không làm? Làm thế nào? Trả lời thế nào, Đảng tự phơi bầy mình ra là thế nấy, chẳng có thế lực thù địch nào xuyên tạc nổi.
Còn nhân dân – qua không biết bao nhiêu kiến nghị, thư, lời kêu gọi… gửi cho Đảng… ít nhất từ 3 Đại hội Đảng toàn quốc liên tiếp cho đến nay – nghĩa là từ 15 năm nay – đã đặt ra cho mình những câu hỏi đúng, các câu trả lời đúng.
 III. Đề nghị của người viết bài này với nhân dân và các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước
  Có thể vì không thấy hết tầm vóc các việc phải làm cho sửa đổi Hiến pháp, hoặc là bị khuôn vào những nguyên tắc chỉ đạo của Tổng bí thư như sửa gì thì cũng phải trong khung khổ Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, quyền lực của hệ thống chính trị là thống nhất, không có tam quyền phân lập, gác lại vấn đề sở hữu đất đai.., nên kế hoạch sửa đổi Hiến pháp như đang tiến hành vừa sơ sài về nội dung, (nặng về hình thức, chiếu lệ và không đi vào thực chất), coi như chẳng liên quan gì đến những nhiệm vụ trọng đại và  nóng bỏng của đất nước trong giai đoạn hiện tại và xa hơn nữa, vừa không được bố trí đủ thời gian công sức lẽ ra phải đầu tư… Làm như thế làm sao mong được kết quả thực chất?
Hơn nữa, chỉ đạo như thế là đứng trên, là ban cho, là ông chủ của nhân dân, là đứng trên Hiến pháp mất rồi!
Ai mà không hiểu Hiến pháp viết như thế nào là quyền của nhân dân chứ! Lãnh đạo ở đây chỉ có một nghĩa, một nội dung duy nhất là giúp người dân có tri thức và quyền năng thực hiện tốt nhất quyền chủ nhân đất nước và sự lựa chọn của họ. Làm khác đi là ốp, là cưỡng bức.
Cũng nhân đây xin nói ngay, hàng ngày Bộ Chính trị có không ít những chỉ đạo như thế.
          Có ít nhất 3 thiếu sót quan trọng cần chú ý khắc phục ngay trong quá trình tiến hành sửa đổi Hiến pháp lần này:
          (1) Thiếu hẳn khâu chuẩn bị cho nhân dân, ví dụ không thông tin thông báo cho nhân dân:
-        thực trạng đất nước, những thách thức và đòi hỏi cho giai đoạn phát triển mới, để suy nghĩ Hiến pháp sửa đổi lần này cần phải thiết kế như thế nào, phải đáp ứng thế nào những yêu cầu mới của đất nước về đối nội, đối ngoại, phát triển…
-        gợi ý những vấn đề trọng đại nào trong Hiến pháp cần tập trung huy động trí tuệ và lấy ý kiến của nhân dân, hướng kiến nghị sửa đổi của Ban soạn thảo…
-        vân vân…
          (2) Về phía Đảng cũng coi việc sửa đổi Hiến pháp là một công việc cắt rời như đã cài sẵn trong lập trình để ở máy tính, nghĩa là chẳng dính dáng gì đến việc phải cải cách hay thay đổi Đảng như thế nào. Mà như thế, như đã nêu trong phần II: giả thử Hiến pháp được sửa  thật tốt thế nào đi nữa, nhưng nếu hệ thống chính trị vẫn y nguyên, cái gì sẽ chờ đợi đất nước?
          (3) Hầu như không có sự chuẩn bị gì cho việc nâng cao dân trí và quyền năng của nhân dân, để nhân dân có thể làm tốt quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc góp ý kiến vào Hiến pháp, trong việc thực hiện quyền phúc quyết… Cũng xin nói ngay, không thực hiện nghiêm túc với chất lượng cao quyền thảo luận tham gia ý kiến và quyết định (nhất là đối với những vấn đề quan trọng), quyền phúc quyết của nhân dân, Hiến pháp sửa đổi hay Hiến pháp mới sẽ giảm hẳn giá tri cũng như khả năng thực thi.
Quá trình soạn thảo sửa đổi Hiến pháp hay xây dựng Hiến pháp mới lẽ ra nhất thiết còn phải là lúc làm cho cả nước có cơ hội học tập để nâng cao hiểu biết, nâng cao quyền năng của công dân, giác ngộ nhân dân những vấn đề trọng đại của đất nước, gắn bó người dân hơn nữa với vận mệnh đất nước… Nhà nước pháp quyền chính đáng nào mà lại không mong muốn công dân của mình có trình độ giác ngộ cao nhất?
          Vân vân…
          Ngoài ra, cá nhân người viết bài này xin có những đề nghị như sau:
1.    Nếu chỉ sửa đổi sơ sơ như dự thảo đã công bố, thì nên tạm dừng lại chưa đi tới phần kết thúc như thời khắc biểu đã định, riêng việc lấy ý kiến nhân dân phải tiến hành có chất lượng và nên kéo dài tới cuối năm 2013, để có thời gian bổ khuyết 3 việc còn sót chưa làm nói trên.
2.    Trong khoảng thời gian kéo dài thêm, nên thực hiện ngay một số Điều đúng, đã có sẵn trong Hiến pháp 1992, như các Điều quy định các quyền về tự do, dân chủ của công dân, quyền con người, về tự do ngôn luận, về báo chí..; đình chỉ ngay mọi hoạt động có tính chất khủng bố, trấn áp, hay đàn áp nhân dân, thả ngay những người bất đồng chính kiến đang phải thụ án tù hay đang bị xét xử, làm ngay một số việc khác như 71 trí thức đã nêu trong kiến nghị ngày 06-08-2012.
3.    Bãi bỏ việc sửa đổi Hiến pháp theo kiểu chắp vá như đang làm, đặt vấn đề xây dưng Hiến pháp mới lần này là một trong những bộ phận quan trọng nhất của chương trình cải cách triệt để và toàn diện chế độ chính trị của đất nước.
4.    Lãnh đạo Đảng và Nhà nước phát huy trí tuệ và tâm huyết cả nước xây dựng chương trình cải cách toàn diện hệ thống chính trị, kế hoạch và lộ trình thực hiện. Thông qua cuộc cải cách chính trị này Đảng thực hiện cải tổ lại chính mình cả về đường lối, về tổ chức để trở thành Đảng của dân tộc phù hợp với những tiêu chí của một nhà nước pháp quyền dân chủ.
5.    Thông qua cải cách chính trị lần này Đảng trang trải hai món nợ, hai nhiệm vụ lịch sử đối với nhân dân, đối với tổ quốc mà Đảng đã để trễ 37 năm sau khi đất nước độc lập thống nhất:
-        Xây dựng một thể chế chính trị dân chủ của nhà nước pháp quyền để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
-        Thực hiện hòa giải đoàn kết dân tộc để phát huy tối đa sức mạnh toàn diện của đất nước.

 IV. Vài suy nghĩ thay lời kết
 Qua cải cách chính trị lần này, một nước Việt Nam dân chủ ra đời[2] từ nước Việt Nam độc lập thống nhất kể từ 30-04-1975  – nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – đấy sẽ là sự đổi đời của chính nước ta, để từ nay và mãi mãi mở mày mở mặt cùng đi được với cả thiên hạ, để có khả năng là bạn và là đối tác được tôn trọng của cả thiên hạ. Song sự kiện này sẽ làm thế giới chấn động, vì nó góp phần củng cố hòa bình, có lợi cho hợp tác và cùng phát triển ở Đông Nam Á, với nhiều ảnh hưởng lan tỏa rất khích lệ cho cái thiện, cái tốt ở mọi nơi. Có thể nói ngay, cả thế giới sẽ vui mừng với chúng ta – trong đó có không ít những bộ phận nhân dân trong lòng đất nước Trung Quốc. Còn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chắc chắn sẽ không như thế. CHNDTH sẽ như thế nào, điều này còn tùy thuộc vào nhiều thứ dễ thấy ngay từ bây giờ… Song việc nước ta phải làm thì nước ta cứ phải làm, đủ sức làm, và làm được, chẳng lẽ cứ phải ngó nghiêng hay xin phép Trung Quốc? Mà dù ta có ngoan ngoãn, ngó nghiêng hay xin phép… chắc gì được yên thân? Khi cần và thấy trên bàn cờ quốc tế là có thể – bất kể là ta yếu hay mạnh, cương hay nhu, ngoan hay bướng… – thì CHNDTH vẫn sẵn sàng ra tay đối với ta, lần nào cũng rất rắn. Chiếm Hoàng Sa của ta năm 1974 là như thế, cuộc chiến tranh Campuchia và cuộc chiến tranh đánh ta tháng 2-1979 là như thế, lấy thêm một số đảo của ta ở Trường Sa năm 1988 là như thế, bây giờ đang muốn lấn chiếm ta tiếp trên Biển Đông cũng là như thế – giữa lúc ta vẫn đang gồng lên nhẫn nhục gìn giữ đại cục, 4 tốt và 16 chữ đấy thôi!..
Nhưng nếu  ta không quyết tâm đổi đời đất nước lần này, chắc chắn nước ta sẽ rơi sâu hơn nữa không có lối thoát vào con đường nô dịch của siêu cường Đại Hán như đã vương vào từ Hội nghị Thành Đô năm 1990 đến nay gỡ chưa ra. Không chỉ có thế, rơi vào vòng tay Trung Quốc, nước ta một lần nữa sẽ trở thành chiến địa mới của nhiều nước, nội chiến cũng sẽ nổ ra trong lòng tổ quốc chúng ta!
          Song làm sao thực hiện được cuộc đổi đời như vậy của đất nước, nếu không có sức mạnh của trí tuệ và từ trong tâm huyết và ý chí của hòa giải đoàn kết dân tộc?
Cần nói thẳng thắn với nhau hòa giải đoàn kết dân tộc như thế đến nay vẫn hầu như là không thể, nhưng lại là đòi hỏi tất yếu, là đòi hỏi đầu tiên để đổi đời đất nước.
Làm sao có thể thực hiện được sự hòa giải đoàn kết dân tộc như thế đã để muộn mất 37 năm rồi, nếu không có một thể chế chính trị dân chủ của đất nước làm cái nôi sinh thành và nuôi dưỡng nó?
          Về ĐCSVN tôi muốn nói thế này: Chắc chắn người Việt Nam nào có ý thức với đất nước đều thiết tha mong mỏi một cuộc đổi đời của đất nước như vậy. Đấy chính là cái đích ngàn đời mà vì nó cả nước đã đi theo Đảng bước vào Cách mạng Tháng Tám. Chẳng lẽ nào bây giờ đứng trên đỉnh cao của quyền lực, Đảng không còn khả năng nhận ra cái đích này? Và chỉ vì thế, có phải là Đảng muốn tự chọn con đường đối kháng với cái đích ngàn đời mong ước này của dân tộc hay không?
          Không ai có thể thay Đảng trả lời câu hỏi này.
          Bốn cuộc chiến tranh, khoảng 7 triệu sinh mạng người dân nước ta (có số liệu nói 10 triệu) bị cướp đi, cùng với biết bao nhiêu tổn thất khác không bao giờ lấy lại được nữa, những vết thương trong lòng dân tộc như đang muốn không bao giờ lành lại nữa, gần một nửa thế kỷ[3] đất nước chìm đắm trong khói lửa giữa lúc thế giới đi lên đỉnh cao phát triển mới, rồi những sai lầm đổ vỡ do chính tự tay ta bên này và bên kia gây nên…
Chừng nấy mất mát và đau thương còn chưa đủ hay sao nếu để xảy ra đổ vỡ nồi da xáo thịt một lần nữa?
Chừng nấy mất và đau thương còn chưa đáng để toàn dân tộc ta nắm tay nhau hòa giải và cùng nhau bước về phía trước?
Chừng nấy mất mát và đau thương không đáng để cho mỗi người Việt chúng ta khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ, cùng đoàn kết giúp nhau dấn lên, đổi đời chính mình, và đổi đời của đất nước hay sao? 
          Cuối cùng, xin nói lời đề nghị quan trọng nhất:
Tôi thiết tha mong từng người dân Việt chúng ta học lại quá khứ của chính mình, của đất nước – học tất cả, để hiểu những điều tốt và xấu, thành và bại, ác và thiện, cái ngu dốt và sự minh triết, sự thù hận và lòng khoan dung… Không chờ và không cần ai ban bảo mình hay nhồi nhét cho mình học cái gì! Mà hãy đem tất cả nỗi thương đau của chúng ta về số phận đất nước, đem tất cả ý chí của mình mong mỏi đổi đời đất nước, để tự tìm tòi học lại tất cả những cái phải học, học thêm những cái mới…
Xin hãy học tất cả những điều phải học như thế, trước hết để chiến thắng chính mình, chiến thắng nỗi sợ và những yếu kém của mình. Học như thế để đổi đời của chính mình và quyết tâm cùng nhau đổi đời đất nước.
Bởi vì: Thực hiện bằng được hòa giải dân tộc để cứu tổ quốc đang lâm nguy, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước là trách nhiệm thiêng liêng không của riêng một ai trong cộng đồng dân tộc Việt Nam chúng ta!
Hà Nội – Võng Thị, ngày 14-01-2013
…………………….
 [1] Xin đừng lúc nào quên một thời nhân dân dành cho Đảng quyền lãnh đạo, song chưa bao giờ có chuyện nhân dân của một nước độc lập dân là chủ lại dành cho Đảng quyền lực cai quản đất nước, Đảng cũng chưa bao giờ dám ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình việc giành quyền lực như thế – vì sẽ danh không chính ngôn không thuận, mặc dù Đảng làm việc này với tất cả.
 [2] Tôi không dám lạm bàn về tên gọi của quốc gia, vì đấy sẽ là quyền của nhân dân, khi nào được hỏi tôi sẽ nói đề nghị của mình.
 [3] 1945 –1989, khi kết thúc chiến tranh Campuchia.
Đưa lại từ trang: Quechoa.vn:  http://quechoa.vn/2013/01/15/30839/ 
 

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

Sửa đổi Hiến Pháp thế nào - Vì sao phải bỏ điều 4?

Ls Trần Lâm và Ts Nguyễn Thanh Giang

I – Vì sao phải bỏ Điều 4 của Hiến pháp hiện hành

A – Điều 4 chống lại Hiến pháp Việt Nam
Phải nói Điều 4 Hiến pháp 1992 đã có “đổi mới” khá hơn Điều 4 Hiến pháp 1980.
Điều 4 Hiến pháp 1980 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội, là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam …”.
Điều 4 Hiến pháp 1992 ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Lược bớt hai chữ “duy nhất” cho đỡ trắng trợn, song tinh thần chung thì vẫn thế.
Về điểm này, nhà cách mạng kỳ cựu Trần Độ đã viết trong bài “Một chiến lược dân chủ hóa để chống tham nhũng”: “Lập ra bộ máy nhà nuiớc để quản lý xã hội thì bộ máy đó phải có quyền lực. Nhưng mà dân làm chủ thì phải có cơ chế cho dân giám sát và kiểm sóat quyền lực đó … Thế mà ngược lại, Hiến pháp lại ghi ở Điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội ”. Thế thì chỉ có Đảng là trên cả Nhà nước, trên cả nhân dân, và đó là nguyên lý phản dân chủ lớn nhất”.
Điều tệ hại là, Điều 4 đã dẫm đạp lên nhiều điều khác trong chinh bản Hiến pháp này:
1 - Đối với Điều 2 – Điều 2 ghi: “Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước pháp quyền XHXN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”
Điều 2 xác định Việt Nam là một nước dân chủ theo định nghĩa của tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln: “Một quốc gia dân chủ là một quốc gia mà chính quyền của dân, do dân, vì dân”. Điều 4 khẳng định “Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vậy tức là đảng chủ, là chính quyền của Đảng, dân của Đảng, dân phải vì Đảng. Rõ ràng Điều 4 chống lại Điều 2.
2 - Đối với Điều 15 – Điều 15 ghi: “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường …” trong khi Điều 4 ghi: “Đảng CSVN theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ….”.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trinh độ cao trong khi chủ nghĩa Mác nói chung không thừa nhận kinh tế hàng hóa và chủ trương xoá bỏ sở hữu tư nhân. Rõ ràng Điều 15 “bất đồng chính kiến” với Điều 4.
3 - Điều 17 ghi: “Phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài … ”.
Điều 21 ghi: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động …”.
Cùng với Điều 15, hai điều này không thể thích nghi Điều 4, hoặc là Điều 4 là cái cùm gông xiềng ba điều 15, 17, 21.
4 - Đối với Điều 83 – Điếu 83 ghi: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHXHCNVN”. Thế là, Điều 83 cùng với Điều 2 hoàn toàn phủ định Điều 4, hoặc là Điều 4 chống lại Điều 2 và Điếu 83.
5 - Đối với Điều 101 – Điều 101 quy định:quyền hạn của Chủ tịch nước: “Chủ tịch Nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCNVN về đối nội và đối ngoại” trong khi Điều 4 xác định đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Hai điều này chồng chéo dẫm đạp lên nhau, nói khác đi, cũng chống nhau.
V v …..
B - Điều 4 biểu hiện Đảng toàn trị chứ không phải Đảng lãnh đạo
1 – Khi đặt ra Điều 4, Đảng chỉ nhìn thấy mặt lợi là dựa vào đấy để giữ “ổn định chính trị”, củng cố vị trí độc tôn, vĩnh viễn của Đảng.
Song, mấy chục năm qua, thực tiến đã trả lời: Điều 4 đã làm tha hóa Đảng rất tai hại. Không ai, kể cả những người cầm đầu Đảng, không dễ dàng nhận rõ được rằng Đảng ta đã và đang suy thoái trầm trọng.
Đảng suy thoái như thế nào? ở điểm nào? ở đâu? người ta đã nói quá nhiều, thiết tưởng không cần nhắc lại ở đây.
Nhưng có thể khái quát là tín nhiệm của Đảng đã sa sút, nội bộ Đảng đã bị lũng đoạn, sức mạnh Đảng đã suy giảm đến mức báo động. Biết bao nhiêu nan đề: giao thông ách tắc, môi trường hủy hoại, giầu nghèo doãng xa, tham nhũng tệ hai, văn hóa suy đồi …! Điều 4 có trách nhiệm gì ở đây? Đảng toàn trị có phải là nguyên nhân?
2 - Đảng toàn trị làm Đảng suy yếu. Tác động của Đảng làm nẩy sinh tiêu cực trong nhân dân. Sự thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiện … là các tệ đoan tầm thấp. Cao hơn là chà đạp lên văn hóa dân tộc, gian dối lừa đảo, bức hại người lành, tội phạm tràn lan …. Đảng khống chế và chi phối xã hội. Đảng suy thoái làm cho xã hội suy thoái. Đấy là hậu quả tai hại của đảng toàn trị do Điều 4 gây ra?.
Điều 4 nguy hại như vậy, cho nên đặt vấn đề xem xét, nghiên cứu, giai tỏa Điều 4 là điều cần làm và cần làm ngay.
Giải tỏa Điêu 4 là vấn đề hệ trọng, bao trùm lên tất cả. Bởi vậy nó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân thực sự đề cao tinh thần trách nhiệm vì nhân dân, vì Tổ quốc mà dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám dũng cảm đương đầu.

II – Sửa đổi Hiến pháp như thế nào?

1 - Tình hình một đất nước luôn biến đổi đòi hỏi hiến pháp phải được sửa đổi, tu chính cho phù hợp là tất nhiên.
Những điều trình bầy trên cho thấy Hiến pháp 1992 tồn tại rất nhiều nghịch lý và bất cập, trong đó, nổi cộm nhất, nhức nhối nhất là Điều 4. Cho nên, tốt nhất là viết lại Hiến pháp. Nếu chỉ sửa đổi thì trước hết phải hủy bỏ Điều 4.
Từ lập quốc đến nay, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã 4 lần sửa đổi hiến pháp.
Ngày 14 tháng 3 năm 2004, Quốc hội Bắc Kinh đã thông qua bản Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi lần thứ tư.
Trong 14 điều tu chính người ta chú ý đến những điều khoản có liên hệ đến kinh tế thị trường và những điều khoản liên quan về chính trị.
Về kinh tế thị trường, tu chính chú trọng đến việc bảo vệ quyền sở hữu cá nhân hợp pháp, trong đó có quyền sở hữu đất đai và chính sách đối với các ngành kinh tế tư nhân.. Về phương diện chính trị, Hiến pháp 2004 có hướng đến tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, cải thiện hệ thống an ninh xã hội, quy định về việc ban bố tình trạng khẩn cấp và quyền hạn của Chủ tịch Nước, nhiệm kỳ của chính quyền ở cấp thành phố …
Khoản 2 điều 11 Hiến pháp sửa đổi của Trung Quốc ghi: “Nhà nước bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh và kinh tế phi công hữu …”.
Điều 13 ghi: “Tài sản tư hữu hợp pháp của công dân không thể bị xâm phạm. Nhà nước bảo vệ, chiểu theo quy định pháp luật, quyền có tài sản tư hữu và quyền kế thừa của công dân …”.
Điều 33 ghi: “Mọi người có quốc tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Mọi công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ nhân quyền”.
Hệ quả của bản sửa đổi Hiến pháp 2004 cho phép ngày 15 tháng 11 năm 2007 Trung Quốc đã cho ban hành sách trắng về “Chế độ chính đảng của Trung Quốc”. Sách trắng giải thích rất chi tiết về sự hình thành đặc điểm, sự phát triển và vai trò của chế độ hợp tác đa đảng trong quá trình phát triển xã hội và kinh tế của Trung Quốc.
Chúng ta thường quan tâm đến việc tham khảo kinh nghiệm Trung Quốc, thiết nghĩ việc sửa đổi Hiến pháp Trung Quốc 2004 và tinh thần sách trắng nêu trên càng rất đáng để ta phải xem trọng.
2 - Về quy phạm sửa đổi hiến pháp ta đã không theo lề lối của thế giới mà cũng không theo các điều khoản khoản hiến định trong Hiến pháp 1946.
Từ trước tới nay, Hiến pháp nước ta đều do Quốc hội soan thảo và thông qua, mà Quốc hội chỉ là cơ quan lập pháp trong khi lập hiến có chức năng riêng và quyền lập hiến là một quyền riêng.
Luật gia Thomas Jefferson, tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 1776 là người có công thúc đẩy hình thành tư tưởng hiến trị. Trong đó quyền lập hiến được đặt cao hơn quyền lập pháp. Từ đấy bảo đảm cho hiến pháp không bị cơ quan lập pháp làm biến chất. Đề xuất nâng quyền lập hiến thành quyền riêng cao hơn quyền lập pháp đòi hỏi phải thành lập cơ quan lập hiến gồm những đại biểu không chỉ gồm các đại biểu quốc hội.
Những người làm cuộc cách mạng 1789 của Pháp cũng như những người làm cuộc cách mạng 1776 tại Mỹ đều chủ trương phải phân biệt quyền lập hiến (quyền làm và sửa đổi hiến pháp) với quyền lập pháp (quyền làm luật). Giáo sư George Vedel, trong giáo trình về luật hiến pháp đã chỉ ra rằng quyền lập hiến là một “thẩm quyền đặc biệt”. Quyền này là một biểu hiện của chủ quyền quốc gia nên nó là một quyền “nguyên thủy”. Do vậy, về mặt pháp lý, nó không thể bị hạn chế bởi bất cứ quyền nào khác.
Làm lại hay sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam cũng nên giao cho một cơ quan quyền lực kiểu như thế .
*
Tóm lại, cần kíp thời làm bản Hiến pháp mới, hoặc ít ra, phải sửa đổi Hiến pháp 1992 một cách cơ bản.
Để làm việc này, phải thành lập một Ủy hội Lập hiến gồm các chính khách, các trí thức tên tuổi, các đại biểu xuất sắc thuộc mọi thành phần xã hội không chỉ là đại biểu Quốc hội hay đảng viên đảng CSVN. Bản Hiến pháp mới hay Hiến pháp 1992 sửa đổi, nhất thiết phải được đưa ra cho nhân dân phúc quyết.
Dứt khoát gạt bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992 khỏi Hiến pháp mới hoặc Hiến pháp sửa đổi. Gạt bỏ Điều 4 chính là phương sách cứu chữa và vực đảng CSVN dậy.
Tuyên bố: “Đảng ta bỏ Điều 4 là tự sát” phải chăng là câu gở miệng. Hãy nhớ, ngày 20 tháng 11 năm 1989 trong cuộc họp Bộ Chính trị đảng Cộng sản Liên Xô, ông Michail Gorbachev vừa gióng giả: “Phải giữ cho được điều 6 Hiến pháp (tương tự Điều 4 của Việt Nam), đó không phải là tình trạng cứu hỏa và cũng không phải là tình trạng đặc biệt”. Oái oăm thay, đấy lại chính là “Tiếng chuông nguyện hồn ai” bi thảm, cáo chung đảng Cộng sản Liên Xô liền ngay sau đó. Đó là gương tầy liếp buộc người có trách nhiệm ở Việt Nam phải cảnh tỉnh.
Một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại, hãy kíp thời hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp, làm cơ sở hủy bỏ Điều 88 Bộ Luật hình sự, nhằm giúp đảng CSVN còn có cơ tồn tại và ra sức vươn lên đặng sánh vai cùng các đảng khác trong một chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng, ngõ hầu xây dựng được một nước Việt Nam mạnh giầu, nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc.
Nhân kỳ Sửa đổi Hiến pháp năm 2012

Ls Trần Lâm và Ts Nguyễn Thanh Giang 
Copy từ danluan: https://danluan.org/tin-tuc/20121230/sua-doi-hien-phap-the-nao-vi-sao-phai-bo-dieu-4#comment-75748

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Đào Tiến Thi - Tôi nghĩ Đảng CSVN không chủ trương tẩy chay Xã Hội Dân Sự

Đào Tiến Thi
“Quan niệm như ông Dương Văn Cừ mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.”
(Thư ngỏ gửi ông Tổng biên tập báo Nhân dân)

Kính gửi ông Thuận Hữu, Tổng biên tập báo Nhân dân điện tử.

Tôi hết sức ngỡ ngàng khi đọc bài Xã hội dân sự – một thủ đoạn của diễn biến hòa bình [*] của tác giả Dương Văn Cừ (DVC) đăng trên báo Nhân dân điện tử do ông làm tổng biên tập.
Nhận thấy bài báo này có những sai trái trầm trọng, có hại cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là có hại cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay nên tôi viết cho ông bức thư này.
Tôi xin kể một vài quan niệm sai của tác giả DVC:
Cái sai thứ nhất, tác giả cho rằng “các thế lực thù địch đã tổ chức thành công việc lật đổ chế độ XHCN” tại các nước Đông Âu như Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc và gần đây là các nước Trung Ðông – Bắc Phi. Tôi chưa nói các chế độ XHCN tại các nước Ba Lan, Ucraina, Tiệp Khắc bị đổ là do sai lầm của chính các đảng cộng sản cầm quyền ở các nước ấy như chính các giảng viên của Ban Tuyên giáo Trung ương đã giảng cho chúng tôi nghe qua các đợt học chính trị, mà tôi hãy nói tại thời điểm này nói như thế có đúng không, có lợi không? Nếu ta coi chính phủ đang cầm quyền hiện nay tại các nước Đông Âu (vốn trước kia theo chế độ XHCN) là “thế lực thù địch” thì làm sao chúng ta có thể “làm bạn với tất cả các nước” như đường lối ngoại giao của nhà nước ta hiện nay? Làm sao mà khi gặp gỡ, thăm viếng nhau, các nguyên thủ quốc gia của ta có thể nói với họ “tăng cường hợp tác, hữu nghị” được?

“Các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ” ở Bắc Phi – Trung Đông...
Cái sai thứ hai, ông DVC cho rằng mới đây “các thế lực thù địch” cũng đã thành công việc lật đổ chế độ ở Bắc Phi – Trung Đông. Chúng ta biết thời gian qua các phương tiện truyền thông của nhà nước ta khi đưa tin về Ai Cập, Tunizi, Lybia đều đưa tin một cách khách quan, không đứng về phía lực lượng nổi dậy, cũng không đứng về phía chính phủ, nhưng các tin tức, bình luận đều cho thấy đó là các chính phủ độc tài, bị nhân dân oán ghét và sự nổi dậy của nhân dân như một tất yếu. Thế mà ông DVC lại coi nhân dân nổi dậy là lực lượng “thù địch” thì hỏi ràng thù địch với ai? chẳng hóa ra ông bênh vực các chế độ độc tài đó? Trong khi tôi chưa thấy một quan chức nào của chính phủ ta ra tuyên bố ủng hộ các chế độ độc tài đó cả. Và với quan niệm như ông DVC thì làm sao chúng ta chơi được với các chính phủ mới của các nước này?
Tổng hợp cả hai ý tôi muốn nói là: chính phủ cầm quyền các quốc gia nói trên (bất kể ở giai đoạn nào) nếu họ sai trái, phản động thì ta có quyền chỉ trích nhưng chỉ trích sự lựa chọn của nhân dân các nước ấy có nên không, cũng như khi ta bị các nước khác chỉ trích, người phát ngôn của nhà nước ta đều khẳng định đây là quyền lựa chọn riêng của nhân dân ta, không ai có quyền áp đặt một chế độ lên một nước khác.
Tóm lại, phát ngôn của ông DVC rất có hại cho đường lối ngoại giao “làm bạn với tất cả nhân dân các nước” của chính phủ ta hiện nay. Tuy nhiên, hai điều trên vẫn chưa phải điều cơ bản tôi muốn nói trong thư này. Trong thư này, tôi muốn nói, quan điểm tẩy chay xã hội dân sự (XHDS) của ông DVC là một quan điểm sai lầm và đi ngược chủ trương của Đảng CSVN.
Chủ trương của Đảng CSVN là xây dựng Việt Nam thành một nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tên nước ta lúc từ mới thành lập cho đến ngày giải phóng miền Nam là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Rõ ràng dân chủ là mục tiêu, là ý nguyện của Đảng và nhân dân ta. Trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, dân chủ còn là điều kiện quan trọng, vì nếu không có nó thì làm sao chống được tham nhũng, lạm quyền, vi phạm pháp luật, làm sao có được xã hội “công bằng”“văn minh”? Mà muốn có dân chủ thì phải xây dựng XHDS.
Sau đây, tôi dùng chính cách hiểu về XHDS của ông DVC và thực tế để chứng minh cái việc tẩy chay XHDS của ông DVC là hoàn toàn mù quáng và phản động.
1. Ông DVC nêu nội dung XHDS qua trích dẫn định nghĩa của Tổ chức Liên minh Thế giới vì sự tham gia của Công dân (CIVICUS): “XHDS là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”. Đoạn khác ông lại viết:
Nhìn từ cấu thành cơ bản một xã hội với ba thành phần là nhà nước, doanh nghiệp và XHDS, một số nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng, nếu ba yếu tố này cân bằng thì xã hội, chế độ chính trị sẽ ổn định, phát triển hài hòa. Ngược lại, nhà nước mạnh sẽ dẫn tới chế độ độc tài, nếu XHDS mạnh, thì sẽ dẫn tới vô chính phủ, bất ổn về xã hội và chế độ sẽ sụp đổ”.
Như vậy XHDS đảm bảo cho việc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. XHDS chỉ mới yếu thôi thì đã dẫn đến chế độ độc tài, vậy nếu không có XHDS nữa thì ra sao? Mặt khác, chỉ vì sợ XHDS mạnh, dẫn đến vô chính phủ mà dứt khoát từ chối XHDS thì có đúng không? Vai trò của nhà nước với bộ máy công cụ khổng lồ để đi đâu? Cứ cái lý lẽ như thế thì chắc khi ông DVC mắc bệnh, ông thà chết chứ không uống thuốc, vì sợ thuốc gây ra tác dụng phụ. Còn bảo “Ðây chính là lý do để các thế lực thù địch quan tâm nghiên cứu, vận dụng, nhằm lợi dụng vai trò của XHDS trong hoạt động lật đổ một chế độ” thì không sợ “thế lực thù địch” nó cười cho hay sao? Chả lẽ “các thế lực thù địch” nó mạnh đến thế và nhà nước mình yếu kém đến thế? Thật cứ như người cớm nắng sợ ra nắng gió vậy.

Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự.
2. Tôi là người thường xuyên đi nghe giảng về tình hình đất nước. Không ít lần tôi được nghe chính các giảng viên lý luận cao cấp nói rằng một xã hội văn minh hiện đại được cấu thành bởi ba thành phần chủ yếu: Kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền – Xã hội dân sự. Có giảng viên còn cho rằng nhiều vấn nạn hiện nay như tham nhũng, kỷ cương, đạo đức xuống cấp, ách tắc và tai nạn giao thông,… là vì chúng ta không có XHDS. Theo tôi, nói chính xác, XHDS ở nước ta không phải không có nhưng mà nó hoạt động quá yếu: công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh,… nhiều tổ chức lắm nhưng lại hoàn toàn thụ động. Thế nên mới luôn luôn xảy ra hiện tượng các ôsin và người làm công bị chủ đối xử tệ bạc, hành hung mà không bị lên án, không bị đưa ra xử lý kịp thời, trong khi các tổ chức dân sự ở cơ sở như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tổ dân phố đều biết! Trong khi đó ở các nước văn minh, một người chỉ vẽ bậy lên tường, xéo lên cỏ ở công viên đã không thể yên với các tổ chức XHDS ở xung quanh, chả cần đến nhà nước phải xử lý. Cách đây mấy năm, một lần đi nghe một chuyên gia về xã hội học văn học người Pháp nói chuyện, tôi có hỏi, rằng bên Pháp, chế độ kiểm duyệt các xuất bản phẩm diễn ra như thế nào, thì ông ấy bảo ở Pháp hiện nay chính phủ không thực hiện chế độ kiểm duyệt. Một xuất bản phẩm nếu vi phạm pháp luật thì ngành tòa án sẽ xử, còn nếu chỉ vi phạm đạo đức, lối sống,… thì sẽ bị các tổ chức dân sự (không thuộc chính phủ) lên án, tẩy chay.
3. Nhìn lại lịch sử thì mầm mống XHDS ở nước ta hình thành từ rất sớm và đã đóng góp rất to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Các công xã nông thôn là hình thức tự quản trước khi có nhà nước. Khi có nhà nước phong kiến rồi thì công xã nông thôn vẫn tồn tại ở địa phương, song song với nhà nước trung ương dưới hình thức xóm và làng, gọi chung là làng xã. Tổ chức làng xã theo nhà nghiên cứu văn hóa, GS.VS. Trần Ngọc Thêm: “Nó là nguồn gốc của tính dân chủ (nhấn mạnh của Trần Ngọc Thêm), bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng nhau, bình đẳng với nhau. Đó là loại dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc; trong lịch sử, nền dân chủ nông nghiệp này có trước nền dân chủ tư sản của xã hội phương Tây”[1]

Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
Cũng theo Trần Ngọc Thêm, tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của làng xã Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử. Tính cộng đồng thể hiện sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới người khác, còn tính tự trị thể hiện làng xã tự bầu lên người lãnh đạo, tự xây dựng luật lệ cho riêng mình. Chính nhờ cái XHDS ấy mà nhiều lúc chúng ta mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng, và khi làng còn là còn có điều kiện để lấy lại nước.
XHDS xưa còn thể hiện ở hàng loạt sự kiện và nhân vật như những trang sử đẹp còn truyền mãi. Bà Linh Từ Quốc mẫu (vợ Thái sư Trần Thủ Độ), giữa lúc giặc Mông Cổ tràn vào Thăng Long (1258), đã tự mình tổ chức việc sơ tán cho các thái tử, cung phi, công chúa, vợ con các tướng lĩnh về vùng an toàn, rồi bà còn trưng mua vũ khí riêng của các gia đình chuyển cho quân đội. Trần Quốc Toản gặp lúc giặc Nguyên lăm le ngoài bờ cõi, mới 16 tuổi đã tự thành lập đội dân binh 1000 người, tự tập luyện, rèn đúc vũ khí, và khi giặc tràn vào xâm lược (1285, lúc ông 18 tuổi) đã giương cao lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” xông ra trận. Đốc học Phạm Văn Nghị (1805 – 1880), gặp lúc giặc Pháp đánh Đà Nẵng, đã tự mộ được 300 nghĩa binh xin đi đánh giặc; đội nghĩa binh của ông từ Nam Định vào đến Huế thì vừa lúc quân Pháp rút vào Gia Định, ông lại xin tiếp vua Tự Đức vào Gia Định nhưng vua không cho. Trong công cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX có sự đóng góp rất lớn của các đội dân binh do những người áo vải tự tổ chức như Trương Định, Nguyễn Trung Trực và bao đội nghĩa binh vô danh khác. Họ đã phối hợp với quân triều đình trong việc đẩy lui quân địch. Họ tiếp tục chiến tranh du kích ngay cả khi triều đình đã thua trận hoặc đầu hàng.
Đầu thế kỷ XX, Đông Kinh nghĩa thục cũng là một hình ảnh sinh động của một tổ chức dân sự đã làm nhiệm vụ khai dân trí, bước khởi đầu để dân ta thoát khỏi đêm trường trung cổ.
Thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liệu cách mạng có thành công không, thậm chí có hoạt động được không, nếu không có các tổ chức dân sự như Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ, Hội Văn hóa Cứu quốc, Liên minh các lực lượng Dân chủ và Hòa bình Việt Nam,… Tất cả đều là hình ảnh của XHDS.
Chỉ sơ sơ như vậy cũng đủ thấy XHDS như là vốn dĩ cần thiết của nền văn minh nhân loại. Nó là hình thức tự quản đã có từ rất xa xưa, tồn tại song song với nhà nước, bất kể là chế độ nào. Trong xã hội hiện đại, XHDS lại càng quan trọng, để nhân dân tham gia vào mọi mặt của đời sống đất nước, để duy trì sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và nhân dân, tránh nạn độc tài, lạm quyền, vi hiến. Tôi nghĩ XHDS có thể cùng với nhà nước hoặc tự mình giải quyết hàng loạt vấn đề của đời sống. Hình ảnh các cháu thanh niên áo xanh, mũ tai bèo điều khiển giao thông, hình ảnh một ông Tây đứng ra phân luồng giao thông, hình ảnh một bà lão nghèo chuyên đi nhặt thủy tinh, kim tiêm vứt bừa bãi,… không phải là hình ảnh đẹp của XHDS hay sao? Nếu họ rủ nhau dăm ba người thành một nhóm, vài chục vài trăm người thành một tổ chức, hỗ trợ nhau để làm những việc có ích như trên thì xã hội lành mạnh biết bao, lại khỏi tốn kém gì của nhà nước. Tất cả chỉ cần tuân thủ hiến pháp và pháp luật, thế thì hại ở chỗ nào, lật đổ ở chỗ nào? Tại sao ở các nước văn minh người ta có XHDS hàng trăm năm rồi mà họ không sợ bị lật đổ chế độ?
Thật đáng buồn, chúng ta đang sợ nhiều cái không đáng sợ, trong đó có nhiềi cái đẹp, cái quý; còn nhiều cái đáng sợ như tham nhũng, buôn lậu, bạo lực,… thì chúng ta lại để nhởn nhơ, coi như sự thường?
Không, tôi không tin Đảng CSVN chủ trương tẩy chay XHDS. Chỉ có thái độ còn e dè, sợ mất tầm kiểm soát. Cái khó có lẽ là chưa có lộ trình cho nó. Nhưng nếu tin vào dân, không quá sợ hãi cái gọi là “các thế lực thù địch” thì chẳng đến nỗi khó khăn.

Ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Quan niệm như ông DVC mới chính là tiếp tay cho các thế lực thù địch (thù địch thực sự, ví dụ các thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc đang âm mưu thôn tính Việt Nam). Vì ông gieo giắc nỗi sợ hãi cho xã hội về một kẻ thù không nhìn thấy. Vì ông tạo ra sự đối lập giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Vì ông tạo ra hình ảnh xấu về Đảng và Nhà nước Việt Nam trước quốc tế, cứ như Việt Nam khước từ dân chủ, tạo ra sự đối lập Việt Nam với phần còn lại của thế giới, khiến Việt Nam mất hết bạn bè.
Tôi không nghĩ một cơ quan ngôn luận của Đảng lại đi làm cái việc hại Đảng như thế. Ban biên tập nào, biên tập viên nào để lọt bài viết sai trái và yếu kém về lý luận như trên cần phải kiểm điểm, xử phạt.
Trân trọng kính chào ông Tổng biên tập.
Đào Tiến Thi

Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Trần Mạnh Hảo - Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời



Trần Mạnh Hảo

1- CHUYỆN THẬT VỀ NHỮNG CÂU HỎI NGƯỢC ĐỜI

Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:
1- Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mác-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx?
2- Trong một lần trả lời con gái, K. Marx cho rằng HOÀI NGHI là phẩm chất đẹp nhất của người trí thức. Lời dạy của Marx còn đúng hay không nếu người trí thức (cụ thể là nhà văn) hôm nay có lúc rất hoài nghi sự lãng đạo của đảng?
3- Theo chúng tôi nghĩ, căn cứ vào chủ nghĩa Marx, thì câu khẩu hiệu trong Hội trường thành uỷ: “Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm” là một khẩu hiệu chống Mac-xit? Vì Marx bảo lúc tới chủ nghĩa đại đồng, sẽ không còn giai cấp, tức không còn đảng của các giai cấp, nghĩa là đảng cộng sản vĩ đại cũng không còn! Vậy ta hô đảng cộng sản muôn năm có phải là không bao giờ muốn có chuyện tiến lên chủ nghĩa cộng sản, chuyện ấy chỉ là bánh vẽ; cầm bằng như ta hô: xã hội loài người có giai cấp muôn năm hay không?
4- Marx dạy rằng: kinh tế quyết định chính trị, cơ sở hạ tầng quyết định ý thức thượng tầng; thế nhưng hiện nay, đảng ta đã làm ngược lời Marx dạy. Nền kinh tế của ta hiện nay là nền kinh tế thị trường đa nguyên, nếu theo Marx thì nền chính trị của ta hiện nay cũng phải là nền chính trị đa nguyên mới đúng quy luật, sao ta vẫn giữ chính trị nhất nguyên là sao? Việc khôi hài hiện nay của đất nước ta là đảng cộng sản, đảng của giai cấp vô sản có nhiệm vụ phải đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, lại đang ra sức xây dựng chủ nghĩa tư bản, rước tư bản nước ngoài vào để bóc lột công nhân? Việc cơ sở hạ tầng là nền kinh tế tập trung = xã hội chủ nghĩa đã bị kinh tế thị trường đập tan, sao trên ý thức thượng tầng vẫn trưng bảng hiệu định hướng xã hội chủ nghĩa, có phải là đầu voi tư bản vẫn lòi đuôi chuột xã hội chủ nghĩa = xếp hàng cả ngày hay không?
5- Chủ nghĩa cộng sản đã tự tan rã ngay chính trên quê hương của nó là Liên xô và các nước Đông Âu. Chứng tỏ chủ nghĩa Mác-Lê không thích hợp với “thổ nhưỡng kinh tế – chính trị” của các nước trên. Vậy, Việt Nam là một đất nước nằm ngoài bản đồ của chủ nghĩa Marx, sao ta cứ phải nô lệ mãi vào cái lý thuyết xa lạ kia để làm khổ đồng bào, việc đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội của đảng ta có giống chuyện đảng ta chủ trương phấn đấu đến năm 2020 cả nước sẽ có tuyết rơi trong mùa đông và sông Hồng, sông Cửu Long sẽ đóng băng ngày đông chí vậy?
Chúng tôi còn viết thư gửi các vị lãnh đạo đảng nhiều câu hỏi khác, nhưng hầu như không được trả lời.

2- CHUYỆN GIẢ TƯỞNG VỀ MỘT SỰ THẬT BI HÀI

Ai bảo Marx (Karl) (1818-1883), người Đức gốc Do Thái, cha đẻ của chủ nghĩa xã hội khoa học, còn gọi là chủ nghĩa cộng sản đã chết thì tôi vẫn còn bán tín bán nghi. Những người cánh tả trên thế giới từ giữa thế kỷ thứ XIX đến nay vẫn coi Marx như là Chúa Jesus mới của giai cấp vô sản. Người Do Thái làm nghề thợ mộc (công nhân) Jesus đã bị đóng đinh trên thập giá và chết năm 33 tuổi; nhưng rồi theo các tông đồ của Ngài kháo nhau rằng Chúa đã sống lại và lên trời. Kẻ viết bài này chưa từng là tông đồ của vị “thánh” Marx Do Thái kia, nhưng vẫn tin lời đồn rằng đại triết gia này chết rồi nhưng vừa bí mật sống lại. Và Marx đã sống lại để tới Bắc Kinh và Hà Nội đòi kiện nhà cầm quyền 2 quốc gia này ra tòa án quốc tế.
Khi vừa sống lại, nghe tin Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Cuba lấy học thuyết của mình để cai trị dân, để làm bình phong cho chế độ toàn trị, Marx phẫn nộ vô cùng. Rõ ràng, trong các trước tác của Ngài, Ngài chả nói rõ như ban ngày rằng: phương thức sản xuất châu Á (gồm các nước trong vùng văn hoá Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập, Châu Phi, Mỹ Latinh da đỏ…, Caribe…) thì Ngài hoàn toàn mù tịt. Chính Marx đã công nhận học thuyết của Ngài chỉ thích hợp với các nước đã có nền tư bản chủ nghĩa vào giữa thế kỷ thứ XIX như: Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Mỹ…Như vậy, các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên đâu có nằm trong bản đồ của chủ nghĩa Marx? Marx ức lắm, toan gầm lên cho cả thế giới rằng: đưa chủ nghĩa Marx vào các nước châu Á là mạo danh, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, đưa chủ nghĩa của ta về áp dụng vào cái chỗ không thể áp dụng, khác nào lấy thuốc chữa tim mạch về chữa bệnh hắc lào? Marx quyết đến bằng được các nước mạo danh Ngài kia để làm cho ra nhẽ.
Sau khi vào mạng Iternet, đọc qua các trang web Talawas. org, Doi-thoai. com, Danchimviet. com…Marx mới biết vài ba nhà nước châu Á treo ảnh mình lên ở khắp nơi, coi mình là ông tổ của chế độ, rồi mặc sức làm ngược lại tất cả các giáo điều của Ngài vốn đã bị thời đại Internet bỏ qua. Ngài dạy trí thức phải hoài nghi, vì hoài nghi là đức tính quý nhất của con người như có lần Ngài trả lời con gái. Thế mà ở Việt Nam hiện nay, ai viết bài hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là có thể bị chế độ bắt liền. Ngài dạy: chủ nghĩa của Ngài nhằm đạt tới tự do cá nhân, nhằm giải phóng con người thoát khỏi sự giả dối của chính trị, thì các nước châu Á mạo danh Ngài kia cấm tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do mít tinh, hội họp, cho chính trị là thống soái và chính trị hoá toàn bộ kiến thức thượng tầng, ngay món thuốc phiện (tôn giáo) cũng bị chính trị hoá mới lạ chứ?
Marx tới Bắc Kinh thuê tắc-xi vào Thiên An Môn, vào tới Đại sảnh đường nhân dân, được mời trà Long Tỉnh Hàng Châu xong, liền bị bị chính quyền của lãnh. tụ Hồ Cẩm Đào trục xuất. Marx quyết định bay tới Hà Nội. Công an Trung Quốc đã báo tin này cho công an Việt Nam. Khi Marx bước xuống sân bay Nội Bài, bèn bị công an bắt liền, xác minh từ người đến giấy tờ, biết đích xác là K. Marx, liền đưa Ngài vào thẩm vấn:
Marx tức lắm hỏi và công an trả lời như sau:
- Ta là ông tổ đẻ ra chế độ của các người, sao các người lại bắt ta?
- Nếu để dân nó biết Marx sống lại tìm tới đây, sẽ mất ổn định chính trị! Ông xui nhân dân hoài nghi, nên dân giờ đến 90% không còn tin tưởng tuyệt đối vào đảng nữa, đó là tội của ông! Ông lại bảo kinh tế nào chính trị ấy. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là kinh tế tư bản, vậy chính trị cũng phải đa nguyên như chính trị tư bản à? Người ta đang hô đảng cộng sản muôn năm, sao ông lại chủ trương cuối cùng khi tới đại đồng cộng sản, đảng cộng sản cũng phải tự triệt tiêu, thế thì làm sao muôn năm được hở ông Marx lẩm cẩm kia? Cái tội lớn nhất của ông là sinh ra biện chứng pháp; tuy là Hegel chủ xướng nhưng ông phát triển thêm và phải chịu trách nhiệm, lúc nào và cái gì cũng phải có đối lập, coi đối lập là phản đề của biện chứng, thậm chí là linh hồn của phép biện chứng. Chính ông xui mấy tên Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Dương Thu Hương, Lữ Phương, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Đan Quế, Tiêu Dao Bảo Cự, Phương Nam- Đỗ Nam Hải, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Vũ Thư Hiên, Bùi Tín, Phạm Quế Dương, Vũ Cao Quận, Nguyễn Chính Kết, Trần Dũng Tiến…đòi đa nguyên đa đảng, đòi đối lập chính trị chứ còn ai, tội ông to lắm ông Marx ạ!
Marx sợ quá run như tên bắn. Hoá ra chế độ nhân danh tên tuổi ta này thua xa cái chế độ tư bản châu Âu thế kỷ thứ XIX. Thời đó, ta sinh ra học thuyết để dùng giai cấp vô sản mà chôn chế độ tư bản. Marx ta lúc đó chính là kẻ thù không đội trời chung của các chế độ tư bản châu Âu và Bắc Mỹ. Nói dại nếu hồi đó các ông Hồ Cẩm Dào, Nông Đức Mạnh, Kim Chung In, Phiden Caxtro mà cầm quyền ở Anh, Đức Pháp, Bỉ thì Marx ta đây và Angels chắc chắn đã bị treo cổ. Marx ta dù từ bỏ quốc tịch Đức, bị chính quyền Đức, Bỉ, Pháp trục xuất nhưng Luân đôn nước Anh là thủ đô của chủ nghĩa tư bản vẫn để ta tư do ra báo, in sách, lập hội lập đảng chống lại tư bản thế giới. Thậm chí, năm 1863 ta đã gửi tác phẩm vĩ đại nhất của ta dùng để chôn chủ nghĩa tư bản là cuốn “Tư bản luận” về in tới 1000 cuốn phát hành tại Hambourg, nước Đức, nơi lệnh trục xuất ta vẫn còn nguyên hiệu lực. Sao chế độ tư bản chúng nó lại tự do quá nhỉ? Còn các chế đột tự xưng là cộng sản thì ngược lại là làm sao? Ta nghe nói đám Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, Mai Thái Lĩnh, Bùi Minh Quốc…mới viết mấy điều đơn giản đòi tự do, dân chủ đã bị bắt thì thà rằng thế giới trở lại thế kỷ thứ XIX mà hưởng tự do tư sản như ta và Anghels ngày nào có sướng hơn không?
Nghe nói sau rồi công an Việt Nam bí mật đưa ông K. Marx đi đâu không rõ. Chuyện về một nền chính trị ngược đời sẽ còn xin kể tiếp sau để hầu bạn đọc và xin các nhà lý luận trong nước và nước ngoài chỉ giáo, chứ đừng đem công an ra để “đối thụi” với nhân dân.
Sài gòn 10-2005
T. M. H.

http://danluan.org/tin-tuc/20121111/tran-manh-hao-chuyen-that-nhu-dua-ve-mot-nen-chinh-tri-nguoc-doi

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Hồng Ngọc - Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị

Hồng Ngọc
Cả thế giới nín thở theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Thậm chí rất nhiều người trong số đó thiếu sự quan tâm thật sự với cuộc bầu cử ngay trên đất nước mình! Liệu đó có phải là điều kỳ lạ?

Dân chủ và bầu cử

Dân chủ, hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy từ nơi mà khái niệm này được sinh ra – nhà nước Athens thế kỷ 4-5 trước Công nguyên – có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Từ dân chủ trong tiếng Việt là từ Hán Việt, có thể hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa chiết tự của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong đời sống, chúng ta nôm na hóa nó thành “dân làm chủ”.
Hầu như tất cả các chế độ xã hội trong lịch sử theo thế quyền đều tự cho mình là dân chủ. Vì ai nắm quyền lực cũng đều tự xưng rằng mình nắm quyền là chính đáng. Nếu không nhân danh thần quyền (nắm quyền theo ý Chúa hoặc ý Trời), thì tất nhiên là phải theo ý nguyện của nhân dân.
Nhưng làm thế nào để quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, để dân thật sự làm chủ thì lại là cả một hệ thống triết lý và tổ chức chính trị.
Trong hình thức lý tưởng, dân chủ nghĩa là tất cả mọi người cùng thảo luận, cùng biểu quyết để ra quyết định chung cho cộng đồng, chính là dân chủ trực tiếp. Nhưng trong thực tế nhân loại, “sân khấu” đông nhất để tụ họp chỉ có chừng 100 ngàn chỗ ngồi, là vài sân vận động lớn nhất thế giới chứ không phải là các quảng trường chính trị. Nếu các quảng trường có tới 100 ngàn chỗ có thể ngồi, thì đó chỉ là nơi tụ họp để biểu tình chứ không phải có chức năng thảo luận và biểu quyết, vì không thể tổ chức và điều phối cho 100 ngàn người cùng thảo luận.
Lịch sử hiện đại lại không có vị thế cho quốc gia dưới 100 ngàn dân. Vì thế, dân chủ trực tiếp ở quy mô quốc gia là không tồn tại. Hình thức thay thế khả dĩ nhất là dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện, ở đó, người dân bầu ra các đại biểu đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định chung cho cộng đồng. Đó là các dân biểu. Trong các chế độ theo mô hình Tổng thống như nước Mỹ, người dân còn trực tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các dân biểu sẽ thảo luận và ra quyết định về luật và chính sách. Trong các chế độ theo mô hình Nghị viện, các dân biểu còn bầu chọn ra người đứng đầu cơ quan hành pháp.

Bầu cử và không khí chính trị

Như vậy, bầu cử chính là hành vi quan trọng nhất trong một chế độ dân chủ. Vì nó là điểm mấu chốt cho việc người dân được làm chủ, trong mô hình dân chủ gián tiếp, khi người dân chọn ra những người đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định đời sống chung của cộng đồng.
Nhưng tổ chức bầu cử như thế nào để người dân được lựa chọn đúng người mà họ muốn làm đại diện cho mình là việc quan trọng không kém.
Thứ nhất, cuộc bầu cử phải bảo đảm rằng nó tạo cơ hội cho tất cả các ứng viên có ý nguyện đại diện và phục vụ cho cộng đồng. Một cuộc bầu cử phản dân chủ thì tìm cách loại những ứng viên tiềm năng bằng cách đặt thêm điều kiện, hoặc ngụy tạo các lý do để loại bỏ bớt ứng viên. Thường thì mọi sự sắp đặt loại bớt ứng viên đều có bàn tay của chính quyền đương nhiệm, vì con người có khuynh hướng níu kéo quyền lực. Để loại bỏ can thiệp của chính quyền đương nhiệm, cách duy nhất là phải có Ủy ban bầu cử độc lập.
Thứ hai, cử tri phải biết ứng viên là ai. Không thể chỉ là hồ sơ khô khốc về học vị, tiểu sử chính trị, và chức vụ hiện tại. Chức vụ hiện tại đương nhiên là lợi thế cho các quan chức đương nhiệm. Hầu hết các nền dân chủ quy định bắt buộc ứng viên phải cư trú ở địa bàn tranh cử, và nhiều khi công khai cả tài sản, thu nhập, gia đình, bên cạnh quá trình công tác chính trị và cộng đồng. Đó vừa là cách để cử tri hiểu rõ ứng viên là ai, không chỉ trên phương diện chính trị mà cả trên phương diện con người – cơ sở của lòng tin vào ứng viên để lựa chọn.
Thứ ba, khuynh hướng chính trị của ứng viên. Các đảng phái chính trị tự nó đã có các khuynh hướng chính trị, thông qua cương lĩnh. Cử tri không chỉ bầu cho ứng viên – con người cụ thể mà còn bầu cho chính đảng đó (điều này có thể khác ở những nơi một đảng nắm vai trò lãnh đạo, bởi họ không cần cạnh tranh).
Thứ tư, dự án của ứng viên hoặc chính đảng. Đó là những mục tiêu, chương trình hành động của ứng viên hoặc chính đảng. Cử tri chỉ có thể lựa chọn đúng ứng viên đại diện cho mình khi mối quan tâm của cử tri chính là mục tiêu của các ứng viên. Và mục tiêu đó chỉ thuyết phục được cử tri khi nó có kế hoạch, có biện pháp để thực hiện một cách khả thi.
Chính khuynh hướng và dự án chính trị làm cho bầu cử thoát khỏi ý nghĩa như là sự trình diễn hình ảnh nhân vật, hay cuộc thi diễn xuất trên sân khấu điện ảnh. Chúng ta vẫn hay nhìn nhận cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ như cuộc trình diễn của Hollywood, nhưng chưa từng có siêu sao điện ảnh nào đắc cử Tổng thống Mỹ. Chỉ có một người duy nhất từng là diễn viên, nhưng lại là diễn viên hạng hai.
Cuộc thảo luận về các khuynh hướng, dự án chính trị chính là yếu tố làm nóng không khí chính trị của các xã hội dân chủ. Thông qua thảo luận, người dân hiểu rõ hơn về tổ chức chính trị, sự vận hành của hệ thống chính trị, về các đảng phái, về các ứng viên, về dự án và tính khả thi của dự án. Nếu bản thân người dân không hiểu, họ sẽ được “hỗ trợ” từ đối thủ chính trị của ứng viên. Vì khi cuộc bầu cử là cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái, nếu một đảng chỉ ra điểm yếu của đối thủ thì đảng đó có thêm cơ hội thắng cử. Khi cử tri hiểu rõ những điều đó, lá phiếu của họ sẽ chính xác hơn.
Tất nhiên, cuộc thảo luận đó không thể thiếu các cơ quan truyền thông. Nó không chỉ bộc lộ quan điểm của mình mà còn là diễn đàn để các bên thảo luận. Dù với vai trò nào, truyền thông có khả năng tác động tới kết quả bầu cử. Nếu truyền thông nằm trong tay chính phủ đương nhiệm, về nguyên tắc khó có một cuộc bầu cử công bằng.
Một cuộc bầu cử đáp ứng đủ những yêu cầu trên đây cũng là một cuộc bầu cử tốn kém về thời gian và tiền bạc. Như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới đây tiêu tốn tới 6 tỷ USD.
Về bản chất, số tiền đó không mất đi, mà chỉ là sự luân chuyển giữa các thành phần của xã hội Mỹ. Đổi lại, nó giúp người dân Mỹ lựa chọn đúng ứng viên đáp ứng mong mỏi của mình trong một cuộc cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng viên.
Đó là lý do mà các cuộc bầu cử ở Mỹ luôn được hâm nóng trong thời gian dài, được theo dõi sát sao trong thời gian bầu cử bởi ngay cả những cư dân ngoài nước Mỹ.
Vì không ai biết trước ý chí của nhân dân, dù có vô số cuộc thăm dò xã hội học. Nó trái ngược với những cuộc “bầu cử” mà người chiến thắng, chính đảng chiến thắng được biết trước, thậm chí được sắp đặt trước, nên tất nhiên cũng xứng đáng được quan tâm hơn.
Hồng Ngọc