Hiến pháp hiện hành được thông qua năm 1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2001 và hiện đang được thảo luận để tiếp tục sửa đổi, bổ sung.
Được sự đồng ý của thân nhân Giáo sư Phan Đình Diệu, chúng tôi trân trọng giới thiệu ý kiến của Giáo sư tại Hội nghị góp ý kiến về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức ngày 12/3/1992. Qua thời gian 21 năm, những ý kiến mang tính vạch đường, đầy trí tuệ và tinh thần trách nhiệm này không hề cũ đi mà càng có tính thời sự sâu sắc đối với việc sửa đổi Hiến pháp hiện nay. Nhiều khiếm khuyết của Hiến pháp hiện hành lẽ ra đã tránh được, nếu như những ý kiến và khuyến nghị đúng đắn của Giáo sư cũng như của nhiều người khác được lắng nghe và tiếp thu.
Nguồn: 1992_GopYKienVeDuThaoHienPhap (1)
Phát biểu của ông Phan Đình Diệu tại Hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam ngày 12 tháng 3 năm 1992.
Kính thưa Đoàn chủ tịch,
Kính thưa tất cả các vị đại biểu,
Tôi xin phép có một số ý kiến tham gia cuộc thảo luận kỳ này – tức là về dự thảo Hiến pháp.
Ý KIẾN THỨ NHẤT: Chúng ta
đang sống trong một tình hình mà đất nước và thế giới có rất nhiều vấn
đề cần được nhận thức và lý giải một cách tỉnh táo. Về những khó khăn
của đất nước, tôi xin không phải nói lại. Nhưng vấn đề cốt lõi là hiện
nay đất nước đòi hỏi gì? Theo tôi nghĩ, cái lớn nhất mà đất nước đòi hỏi
là phải phát huy được tất cả mọi năng lực của tất cả các thành viên
cùa dân tộc trong tinh thần đoàn kết, hòa hợp, tự cường để đưa đất nước
thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và tiến kịp với thế giới. Phải trên cơ
sở phát huy thật sự mọi năng lực của dân tộc thì mới có thể tận dụng
được những thành tựu của thế giới hiện đại, tận dụng được những khả năng
hợp tác với bên ngoài, và do đó, mới có thể sử dụng được mọi thuận lợi
để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, có cuộc sống no ấm hạnh phúc
trong cộng đồng thế giới đang bước sang một giai đoạn văn minh mới. Tôi
nói điều đó bởi vì hiện nay, trong điều kiện mở cửa, nhiều khi ta hy
vọng quá nhiều vào những quan hệ với nước ngoài, đầu tư của nước ngoài,
v.v… Điều đó là hết sức quan trọng, nhưng cái quan trọng hơn nữa, cái
cốt lõi nhất là phài làm sao phát huy được mọi năng lực của chính bản
thân chúng ta. Bởi vì dân tộc ta, nếu không phát huy được năng lực của
chính mình, thì dù người nước ngoài có ồ ạt đầu tư vào, chúng ta cũng
chỉ đóng vai trò của những kẻ đầy tớ hèn mọn mà thôi. Cho nên vấn đề làm
chủ, vấn đề phát huy thật sự năng lực của mọi thành phần của dân tộc,
không phân biệt đối xử, không có hận thù, hòa giải, hòa hợp, mới là cái
cốt lõi, cái cơ bản nhất. Năng lực ấy chúng ta có. Còn thi hành bất kỳ
một chính sách phân biệt nào, bất kỳ sự chia rẽ nào, bất kỳ sự duy trì
tình trạng đối địch thù hận nào, cũng đều nguy hiểm cho quá trình đoàn
kết để chấn hưng đất nước. Vì vậy, Hiến pháp, theo tôi nghĩ, cần phải
được bàn trên tinh thần đó, tạo điều kiện cho xã hội Việt nam tiến theo
hướng đó. Và cũng cần nói thêm rằng với tư cách một bộ luật cơ bản, cao
nhất, thì hiến pháp phải thực sự là bộ luật cơ bản và cao nhất, không có
bất kỳ một thứ luật nào khác, thành văn hay không thành văn, cao hơn
nó.
Ý KIẾN THỨ HAI: Vậy những đòi
hỏi đó của đất nước hiện nay cần được phản ánh trong thể chế xây dựng
nhà nước, tức là được phản ảnh trong Hiến pháp, như thế nào? Như chúng
ta đã biết, qua sự vận động của đất nước ta cũng như trên thế giới vừa
qua, thì điều đã rõ là chúng ta phải từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu
cũ để xây dựng một đất nước, một thể chế có nền kinh tế thị trường thật
sự (dĩ nhiên là có sự điều tiết của nhà nước) và một chế độ chính trị
dân chủ đoàn kết dân tộc, có nghĩa là một xã hội dân sự và một nhà nước
dân chủ pháp quyền. Vì thế, ở đây có nhiều vấn đề cần phải dứt khoát và
phải có những quan điểm rõ ràng. Bởi vì, nếu theo hướng đó thì rõ ràng
chế độ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một thể chế xã hội, tức là một
hình thái tổ chức xã hội trong đó chế độ sở hữu công cộng là cơ bản hay
gần như là duy nhất, trong đó nền kinh tế được quản lý tập trung bằng kế
hoạch thống nhất của nhà nước, trong đó có một chế độ chính trị do một
đảng lãnh đạo theo mô hình chuyên chính vô sản, đã chứng tỏ là không thể
duy trì được nữa và là sự cản trở cho mọi tiến bộ của dân tộc. Và cũng
như đã được chứng tỏ, nó là sự cản trở và đã bị phá bỏ ở nhiều nơi trên
thế giới. Vì vậy, chúng ta phải dũng cảm để nhận thấy rằng chế độ xã hội
chủ nghĩa theo mô hình đó, tức là theo chủ nghĩa Mác – Lênin, không còn
đáp ứng được mục tiêu phát triển của dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Một vấn đề đặt ra là có thể chăng cố gắng kết hợp một nhu cầu không thể
bác bỏ được là phát triển nền kinh tế thị trường với một ý đồ duy trì
thể chế chính trị “xã hội chủ nghĩa” kiểu chuyên chính vô sản do một
đảng lãnh đạo? Tôi nghĩ, ở đây mỗi thể chế, mỗi cách tổ chức xã hội có
logic của nó và trong mỗi logic đó có những yêu cầu về tính nhất quán
của nó. Không thể dễ dàng từ bỏ một số yếu tố này mà lại giữ nguyên một
số yếu tố khác. Thực tế mấy năm qua cho thấy trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường, nhưng vẫn giữ sự độc quyền lãnh đạo, thì không phải
chúng ta phát huy được tính tích cực của cả hai thể chế đó, mà thật ra
xã hội đồng thời chịu tác động tiêu cực của cả hai thể chể. Bởi vì,
trong một nền kinh tế không có hàng hóa thì người ta không thể dùng
quyền để bán đi được. Nhưng một nền kinh tế thị trường vẫn mà vẫn giữ độc quyền thì quyền cũng là một thứ hàng hóa.
Và trong mấy năm qua, nạn tham nhũng không thể trị được chính là hình
thức kết hợp sự độc quyền và nền kinh tế hàng hóa. Vì không có thứ hàng
hóa nào lại dễ ăn dễ lãi như quyền lực. Tham nhũng về thực chất là việc
biến một cách phi pháp quyền lực thành hàng hóa. Cho nên không thể kết
hợp những yếu tố không thể dung hòa được của hai thể chế để hy vọng tạo
ra một hình thái tích cực được. Chúng ta cần nhanh chóng khắc phục những
yếu tố cộng lại cái tiêu cực như vậy. Thật ra, kinh tế thị trường không
phải cái gì cũng tốt cả. Kinh tế thị trường cũng có nhiều mặt tiêu cực
của nó. Chính vì vậy, để phát triển được nền kinh tế thị trường và để nó
có thể phát huy được mặt tích cực và hạn chế được mặt tiêu cực, thì đòi
hỏi phải tăng cường luật pháp, đòi hỏi phải có một hệ thống luật pháp
thật đầy đủ và có khả năng điều chỉnh mọi mối quan hệ phức tạp trong một
xã hội có kinh tế thị trường. Do đó, phải tăng cường luật pháp, tăng
cường dân chủ, phải xóa bỏ độc quyền. Để làm được như vậy phải bảo đảm
quyền tự do dân chủ, đặc biệt những quyền tự do ngôn luận, tự do báo
chí, tự do tư tưởng, tự do phê phán của nhân dân. Trong điều kiện đó,
tôi đề nghị phải dũng cảm nhìn vào sự thật và có sự lựa chọn khoa học và
logic. Trong sự lựa chọn này, tôi hoàn toàn đồng ý với nhiều ý kiến đã
được phát biểu là: khi khái niệm chủ nghĩa xã hội theo kiểu cũ không còn
thích hợp nữa, còn theo một kiểu mới nào đó thì chúng ta chưa hề định
hình được, thì không nên ghi những từ như vậy trong một văn bản pháp
luật có tính chất bắt buộc đối với toàn dân trên đất nước này. Chúng tôi
đề nghị những thuật ngữ “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa Mác – Lênin”,
v.v… trong Hiến pháp đều nên tạm gác lại. Có bỏ vĩnh viễn hay không,
chuyện đó ta hãy xét sau, nhưng ít nhất là nên tạm gác lại. Tổ quốc này
chưa phải là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, tài sản công cộng cũng không
phải là “tài sản xã hội chủ nghĩa”, những chữ ấy không mang một nội dung
gì cả. Vì vậy chỉ cần nói chúng ta bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, chúng ta
xây dựng đất nước Việt Nam, chúng ta bảo vệ tài sản công cộng trên đất
nước này, thế là đủ. Ban nãy, Linh mục Vương Đình Bích có nói: vì có sự
khác biệt tư tưởng giữa chủ nghĩa Mác – Lênin và tôn giáo, do đó nếu ghi
chủ nghĩa Mác – Lênin vào Hiến pháp thì rất khó xử đối với đồng bào tôn
giáo. Tôi không theo một tôn giáo nào, tôi là một người làm khoa học,
nhưng vì là một người làm khoa học, tôi hiểu rằng trong học thuyết của
Mác và cả trong sự phát triển về sau của Lênin có những yếu tố tích cực
cần giữ, đồng thời có rất nhiều yếu tố mà thời đại chúng ta đã vượt qua,
khoa học đã bác bỏ. Với tư cách là một nhà khoa học, tôi cũng không thể
đội lên đầu một chủ nghĩa, xem như nó là một thứ ánh sáng bất biến, một
ánh sáng vạn năng chiếu rọi cho mọi tư duy của mình. Chúng ta cũng
không nên bắt cả dân tộc ta phải đội lên đầu bất kỳ một chủ nghĩa nào,
bất kỳ một cá nhân nào. Dân tộc phải trên hết.
Trên tinh thần đó, tôi nghĩ rằng nếu đặt vấn đề đổi tên
nước, thì tôi hoàn toàn đồng ý với anh Lê Đình Hoan phát biểu ban sáng
là nên lấy một cái tên cực kỳ đơn giản, nhưng phản ánh mọi tình cảm tha
thiết nhất của mọi người dân đất nước này, dù ở bất kỳ góc trời nào, đó
là tên NƯỚC VIỆT NAM. Việt nam thôi, không cần có mĩ từ nào bên cạnh cả.
Ý KIẾN THỨ BA: Dẫu biết
rằng nhiều người không muốn nói đến một vấn đề khá tế nhị và không phải
dễ phát biểu, tôi cũng xin mạnh dạn đề cập. Đó là vấn đề đảng lãnh đạo.
Chúng tôi nghĩ đã đến lúc cần lựa chọn: Một Hiến pháp theo mô hình
chuyên chính vô sản, do Đảng cộng sản lãnh đạo, hay một Hiến pháp dân
chủ pháp quyền? Nửa vời thì sẽ tự mâu thuẫn. Tôi không có thì giờ phân
tích kĩ ở đây, nhưng rõ ràng có rất nhiều mâu thuẫn trong bản dự thảo
Hiến pháp hiện nay. Không chỉ là mâu thuẫn, mà còn có nhiều chỗ phản ảnh
không thật và nhiều điều bị che giấu đằng sau những ngôn từ của văn
bản. Vì, nếu đã giữ điều 4, tức là giữ điều nói đảng là lực lượng lãnh
đạo của Nhà nước và xã hội, thì cần có một chương qui định rõ ràng về
đảng lãnh đạo. Để trung thực với dân tộc thì cần nói rõ đảng lãnh đạo là
như thế nào? Trong điều kiện đó, quốc hội có còn là cơ quan quyền lực
cao nhất nữa không? Hay đảng là cơ quan quyền lực cao nhất, còn quốc hội
chỉ là cơ quan thể chế hóa các nghị quyết của đảng? Những điều như vậy
cần được ghi rõ thành những điều trong Hiến pháp, có vậy mới sòng phẳng
và trung thực với nhân dân. Nếu không làm như vậy, thì Hiến pháp sẽ là
hình thức và sự chuyên quyền tùy tiện sẽ thực tế ngự trị như ta đã biết
từ trước đến nay. Còn nếu quả thực đã thừa nhận Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất thì để không mâu thuẫn, phải không có điều 4. Trong
trường hợp đó đảng phải giành quyền lãnh đạo bằng sự tín nhiệm, bằng
cách ra ứng cử Quốc hội trong cuộc bầu cử thực sự tự do và bình đẳng, và
giành đa số trong Quốc hội. Đảng lãnh đạo, như vậy, là phải đứng trong
dân tộc, nằm trong dân tộc, cùng với dân tộc để tranh quyền lãnh đạo,
chứ không phải tự đặt mình đứng trên dân tộc, đứng ngoài dân tộc, đứng
trên Nhà nước để tự áp đặt quyền lãnh đạo của mình. Thế là công minh và
minh bạch. Như thế, tôi chắc rằng uy tín của đảng sẽ cao hơn. Biết bao
thời kỳ trước đây, làm gì có điều qui định trong Hiến pháp là đảng lãnh
đạo, mà đảng vẫn được nhân dân thừa nhận, và rõ ràng uy tín của đảng hồi
đó cao hơn cả thời kỳ mà sự lãnh đạo được ghi vào Hiến pháp. Tôi không
chống lại sự lãnh đạo của đảng. Tôi mong muốn có một đảng với tư cách là
một lực lượng chính trị có tổ chức và có kinh nghiệm, có trí tuệ và có
năng lực tập họp, giành được sự tín nhiệm của nhân dân và lãnh đạo đất
nước trong một thể chế dân chủ. Nhưng tôi cũng không mong có một đảng tự
áp đặt quyền lãnh đạo tối cao, bất chấp mọi luật pháp, đứng trên Nhà
nước. Điều đó chỉ làm giảm uy tín của đảng và đưa thiệt thòi đến cho dân
tộc mà thôi.
Ý KIẾN THỨ TƯ: Vấn đề
quyền con người và quyền công dân. Trong bản dự thảo có một chương dài,
nhưng sắp xếp chưa thỏa đáng lắm. Mỗi chúng ta ở trong xã hội đều có
quyền con người và quyền công dân, bởi vì mỗi cá nhân sống trong xã hội
với hai tư cách: tư cách là một cá nhân cần được bảo vệ, cần được tôn
trọng để tồn tại như một con người cá thể và tư cách thứ hai là như một
thành viên của cộng đồng dân tộc. Quyền con người là quyền để tồn tại
như một cá thể, quyền công dân là quyền để tồn tại và để góp phần như
một thành viên của cộng đồng dân tộc. Những quyền như bất khả xâm phạm,
tự do cư trú, tự do tư tưởng, tự do đi lại, v.v… là những quyền con
người. Còn quyền công dân cơ bản là quyền tham gia công việc của cộng
đồng: tham gia lựa chọn những người xứng đáng vào bộ máy cai quản cộng
đồng, tức là quyền bầu cử, ứng cử, quyền hội họp, quyền lập hội. Nhưng
nên nhớ rằng nhân dân không chỉ thực hiện quyền dân chủ thông qua các cơ
quan dân cử, nghĩa là cứ 4-5 năm đi bầu một lần là xong. Nhân dân còn
có quyền tham gia quản lý nhà nước trong quá trình hoạt động hàng ngày
và thường xuyên của nhà nước và của xã hội. Nhưng tham gia bằng cách
nào? Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng tập hợp dân lại để lấy phiếu về
từng vấn đề. Cũng không phải lúc nào cũng có thể tập họp dân lại để bàn
chuyện này, chuyện khác. Vì vậy, quyền cơ bản của dân trong việc thường
xuyên phê phán và góp phần vào việc quản lý Nhà nước là thông qua dư
luận, tức là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Quyền này cực kỳ quan
trọng. Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí không chỉ nằm trong phạm
vi quyền con người, mà đây là quyền của nhân dân góp phần vào công việc
của cộng đồng. Cho nên chúng tôi đề nghị phải thật sự tôn trọng những
quyền này và tạo điều kiện cho những quyền này có vị trí thích đáng. Một
xã hội sẽ hoàn toàn tê liệt nếu như không có quyền tự do ngôn luận,
quyền tự do báo chí, tức là những quyền mà danh từ khoa học gọi là tạo
ra những “feedback”, những liên hệ ngược. Trong hệ điều khiển của xã
hội, không có nó thì xã hội bị tê liệt và sự thao túng của quyền lực là
điều không thể tránh khỏi. Những chuyện tham nhũng, những chuyện đặc
quyền, đặc lợi, trong đó có những chuyện tày đình như đã xảy ra trong
thời gian vừa qua, sẽ không thể nào khắc phục được, là bởi vì nếu chỉ
giao cho những cơ quan quyền lực thì làm sao chống được những tệ nạn mà
nguồn gốc chính là từ quyền lực? Những chuyện như hóa giá nhà ở thành
phố Hồ Chí Minh chẳng hạn,tại sao không công bố trên báo chí danh sách
những người được hưởng nhà hóa giá? Nếu công bố như thế thì sẽ rõ ra ai
là người tham nhũng và cần phải chống tham nhũng như thế nào. Cho nên,
mối liên hệ ngược, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tự do
phát biểu của nhân dân trong đời sống hàng ngày, quyền tạo ra dư luận là
quyền cơ bản, rất cơ bản, nằm trong các quyền công dân của chúng ta.
Tôi đề nghị trong Hiến pháp các quyền công dân đó được ghi thành một
nhóm, còn các quyền con người thì ghi thành một nhóm khác.
Ý KIẾN THỨ NĂM: Về Quốc
hội. Muốn quốc hội trở thành cơ quan quyền lực cao nhất, phải có hai
điều kiện: 1) đại biểu quốc hội phải có năng lực thật sự để hiểu được
quyền lực cao nhất đó và có khả năng thực hành quyền lực đó. 2) đại biểu
phải có thì giờ để làm công việc đại biểu của mình. Còn nếu quốc hội
chỉ gồm cho đủ thành phần, kể cả những người không hiểu gì về công việc
Nhà nước, xuân thu nhị kỳ ngồi với nhau để gọi là có ý kiến về những vấn
đề trọng đại của đất nước thì làm sao có “ý kiến” được. Tôi đồng ý đại
biểu quốc hội phải có những tiêu chuẩn về kiến thức, năng lực, nhưng
cũng phải có tiêu chuẩn này nữa: đại biểu quốc hội phải bảo đảm dành
hoàn toàn thì giờ lo việc của quốc hội trong nhiệm kỳ cùa mình. Nếu tự
xét thấy không đủ điều kiện đó, thì không nên ứng cử đại biểu. Một Quốc
hội làm việc thường xuyên thật sự đại diện cho trí tuệ của dân tộc là
hết sức cần thiết để bảo đảm cho Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất
của Nhà nước. Hiện nay, khi chuyển sang kinh tế thị trường, cần có hệ
thống luật pháp thật đầy đủ và hoàn chỉnh, nếu cứ như hiện nay, mỗi năm
Quốc hội họp hai lần, mỗi lần chỉ thông qua vài ba luật một cách không
đầy đủ trí tuệ lắm, tất nhiên sẽ không bao giờ có đủ luật cho một nền
kinh tế phát triển lành mạnh. Mà không có luật đầy đủ và hoàn chỉnh thì
chỉ có thể có một nền kinh tế què quặt, chứa đựng rất nhiều tiêu cực
hoành hành mà thôi.
Do đó, tôi đề nghị cần thực sự đổi mới việc bầu cử đại
biểu Quốc hội, đặc biệt là việc tôn trọng quyền tự do và bình đẳng trong
ứng cử. Quyền ứng cử là quyền bình đẳng của mọi công dân. Chỉ cần thỏa
mãn một số điều kiện qui định là đều có quyền ứng cử. Điều kiện đó có
thể là người ứng cử phải hội đủ một số chữ ký đề cử của cử tri (có thể
là 5 nghìn chữ ký chẳng hạn). Những chữ ký đó có thể là của cử tri trong
một đoàn thể hay trên địa bàn dân cư. Việc hiệp thương có thể được tiến
hành giữa các đoàn thể để giới thiệu các ứng cử viên chung. Sau đó, cần
nộp đơn ứng cử cho ban bầu cử, chứ không phải nộp đơn cho Ủy ban trung
ương Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận là một tổ chức của các đoàn thể, không
phải là một cơ quan nhà nước để tổ chức bầu cử. Việc lập danh sách bầu
cử là của cơ quan Nhà nước về bầu cử ở trung ương và địa phương.
Ý KIẾN THỨ SÁU: về tổ
chức Nhà nước. Đó là vấn đề phức tạp. Chúng ta dường như thích phê phán
cái gọi là “tam quyền phân lập” (tức quyền lập pháp, quyền hành pháp và
quyền tư pháp) như là một cái gì đó của chế độ tư bản. Thật ra đó là một
hình thức tổ chức nhà nước tiến bộ của loài ngườỉ. Dĩ nhiên, chúng ta
có thể theo hoặc không theo, có thể chế biến theo cách này hay cách
khác. Theo tôi, trong điều kiện thực tế của chúng ta hiện nay, cần tôn
trọng tính chất độc lập của các quyền đó, nhưng có thể không theo một
hình thức tổ chức hoàn toàn phân lập. Về quyền hành pháp nên có qui định
trách nhiệm cá nhân thật rõ ràng và đầy đủ của thủ tướng. Còn về Quốc
hội, tôi đồng ý với những ý kiến như của giáo sư Lý Chánh Trung vừa rồi.
Nếu Quốc hội làm việc thường xuyên thì không cần có Ủy ban thường vụ
Quốc hội, mà chỉ cần có chủ tịch và các phó chủ tịch. Các kỳ họp không
nên cách nhau sáu tháng mà phải ngắn hơn. Do đó, cũng không cần Ủy ban
thường vụ Quốc hội. Chức chủ tịch nước như bản dự thảo trình bày là hoàn
toàn cần thiết. Hệ thống hành pháp thì rõ ràng cần phải có sự chỉ đạo
tập trung và thống nhất. Do đó, phải bổ nhiệm những viên chức chịu trách
nhiệm hành pháp tại các địa phương. Có thể tham gia ý kiến người này,
người khác, nhưng phải bổ nhiệm. Và người được bổ nhiệm phải chịu trách
nhiệm trước cấp bổ nhiệm mình.
Ý KIẾN THỨ BẢY: Về vai
trò của Mặt trận và các đoàn thể. Tôi đề nghị cần xem xét nghiêm túc là
có nên tiếp tục nhà nước hóa các đoàn thể như hiện nay không ? Bởi vì
hiện nay, chúng ta cái gì cũng dựa vào nhà nước cả. Thật đau lòng là mỗi
khi Mặt trận làm gì, cũng nghe kêu Nhà nước đối xử với Mặt trận như thế
này, như thế kia, nhà nước cần có chế độ thế này, thế kia, v.v… Nếu
chúng ta là tổ chức quần chúng, tức là một tổ chức được thành lập trên
cơ sở tự nguyện của quần chúng, thì cái rễ của chúng ta là quần chúng,
chứ không phải nhà nước. Và như vậy, sức mạnh của chúng ta là sức mạnh
phản ảnh nguyện vọng, tâm tư, đề nghị của quần chúng, chứ không phải là
cái đuôi nhạt nhẽo của bộ máy nhà nước. Tôi đề nghị: trong việc chuyển
biến nhà nước thành một nhà nước dân chủ pháp quyền, các tầng lớp nhân
dân, các thành phần nhân dân có quyền thành lập các đoàn thể, các hội
đoàn của mình một cách hoàn toàn tự nguyện, và điều đó cần được bảo đảm
trong hiến pháp về quyền lập hội, thế là đủ. Cũng không cần nêu trong
Hiến pháp là có những đoàn thể nào. Đặc biệt, không nên xem các đoàn thể
của nhân dân là nằm trong cơ cấu của hệ thống nhà nước, là những thành
phần của một hệ thống chính trị chịu sự điều khiển của Đảng và Nhà nước.
Dĩ nhiên, như vậy thì các đoàn thể chúng ta cũng phải dũng cảm không ăn
lương của Nhà nước. Tôi đề nghị ngân sách Nhà nước chỉ chi cho bộ máy
Nhà nước, không chi cho bất kỳ đoàn thể nào. Vì vậy, các cơ quan đảng,
các cơ quan đoàn thể không ăn lương từ ngân sách nhà nước.
Cuối cùng, tôi không hy vọng những điều trình bày nói
trên sẽ được xem xét phân tích trong một thời gian ngắn, cũng như ý kiến
của nhiều vị đã trình bày trong hội nghị này chắc chắn sẽ còn được
nghiên cứu kĩ. Như nhiều vị đã phản ảnh, việc thảo luận dự thảo Hiến
pháp lần này quá vội vàng, nhân dân chưa có điều kiện góp ý đầy đủ. Do
đó, nên chăng lần này chỉ nên đưa ra một số điều sửa đổi Hiến pháp 1980
để tạo thuận lợi cho những công việc trước mắt, ví dụ như những điều
khoản về chế độ kinh tế, những điều khoản về vấn đề bầu cử quốc hội,
v.v… Còn việc sửa đổi toàn diện để xây dựng một Hiến pháp mới thì giao
cho Quốc hội mới tiến hành trong cả nhiệm kỳ sắp tới./.
Cop từ: http://hienphap.net/2013/02/24/gop-y-kien-ve-du-thao-hien-phap-phan-dinh-dieu-1992/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét