Làm thất bại chiến lược "Diễn biến hòa bình”
Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
QĐND - Thứ Tư, 26/08/2009, 23:45 (GMT+7)
Bấy
lâu nay các thế lực thù địch với Việt Nam vẫn rêu rao tư tưởng "đa
nguyên chính trị", "đa đảng đối lập", hòng truyền bá và kích động tư
tưởng dân chủ vô chính phủ, loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với sự nghiệp cách mạng nước ta. Tuy nhiên, chúng ta đã nhiều
lần khẳng định không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với
những lý do dưới đây:
1. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là chế độ chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đa
nguyên chính trị là một khuynh hướng xã hội học - triết học, tuyệt đối
hóa sự đa dạng đối kháng của các nhóm, đảng phái, tổ chức chính trị khác
nhau trong xã hội. Nó xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, khi giai cấp tư
sản còn là giai cấp tiến bộ trong đấu tranh chống độc quyền, bảo vệ sự
đa dạng và bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát
triển quyền tự do dân chủ tư sản.
Khi
các tổ chức độc quyền xuất hiện, đa nguyên chính trị mất dần ý nghĩa
ban đầu, trở thành thủ đoạn để điều chỉnh lợi ích trên nguyên tắc cạnh
tranh giữa các nhóm, tổ chức độc quyền có lực lượng ngang bằng nhau và
là bình phong “dân chủ” che đậy sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội
tư bản.
Khi
chủ nghĩa xã hội xuất hiện, đa nguyên chính trị trở thành công cụ tư
tưởng để giai cấp tư sản chống các nhà nước xã hội chủ nghĩa, phong trào
công nhân và các trào lưu tiến bộ trên thế giới bằng việc đòi mở rộng
quyền tự do dân chủ vô chính phủ, chống nguyên tắc tập trung dân chủ,
đòi thực hiện chế độ đa đảng, nhằm vô hiệu hóa và từng bước đẩy Đảng
Cộng sản khỏi vị trí lãnh đạo xã hội, đòi xây dựng nhà nước pháp quyền
tư sản - bề ngoài đại diện cho lợi ích của tất cả các nhóm, đảng phái
đối lập, nhưng thực chất đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản.
Như vậy, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tất yếu không phải là mô hình chính trị của chế độ xã hội chủ nghĩa.
2. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không bảo đảm được dân chủ đích thực. Bản chất của dân chủ là quyền
lực thuộc về nhân dân. Muốn thực hiện được nó thì trước tiên người lao
động phải xây dựng nên một chính đảng cùng một chính phủ duy nhất đại
diện cho quyền lực của mình. Với một chế độ xã hội, thì hoặc quyền lực
thuộc về giai cấp bóc lột hoặc thuộc về giai cấp bị bóc lột mà thôi.
Không có thứ quyền lực hay dân chủ cho mọi giai cấp. Bản chất của đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm một mục
tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản bóc lột. Trả lời
phỏng vấn và kết luận mới nhất của đoàn khảo sát Hoa Kỳ (6-2009) của các
nhà khoa học Việt Nam cho thấy rõ điều này: Giáo sư Paul Mishler
(Trường Đại học bang Indiana) khẳng định: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp,
thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”;
“Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng
của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”(*)… Với lý do đó, đa nguyên, đa đảng không bao giờ tiến tới một nền dân chủ đích thực.
3.
Lịch sử cách mạng Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã
xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất
yếu tự nhiên. Năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo toàn dân
tộc đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền, thiết lập nên Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặt quyền lợi của quốc gia, dân tộc lên trên hết
nên trong những ngày đầu gìn giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc,
Đảng ta đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh
đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia
lãnh đạo đất nước.
Song,
trong quá trình cách mạng, các tổ chức đảng phái hoặc phản động, hoặc
có đường lối không đúng đắn, không vì quyền lợi của quốc gia, dân tộc đã
lần lượt bị chính nhân dân loại bỏ, chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản
Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo có đường lối cách mạng đúng
đắn, vì quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động, vì nền độc lập và sự
phát triển của đất nước đã được nhân dân lựa chọn là chính đảng duy nhất
đại diện cho quyền lợi của mình.
Sau
1954, Đảng ta cũng chủ trương tổng tuyển cử tự do, thành lập chính phủ
liên hiệp, thống nhất nước nhà, nhưng chính chính quyền Ngô Đình Diệm đã
bác bỏ và phủ nhận thể chế đa nguyên đó. Mặt khác, được sự tiếp sức của
đế quốc Mỹ, các thế lực phong kiến và phản động ở miền Nam cũng đã từng
lập nên một chính thể đa nguyên với sự tham gia của nhiều đảng phái.
Nhưng mục đích chính trị của các đảng phái đó lại chống lại nền độc lập
dân tộc và quyền lợi của nhân dân lao động, nên nhân dân cả nước ta đã
đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó, thiết lập nên nền chính trị nhất
nguyên và lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện duy nhất cho
quyền lợi của nhân dân lao động và cả dân tộc. Tính tất yếu của quá
trình lịch sử tự nhiên đó đã và đang được nhân dân ta khẳng định trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay.
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam - một chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng
Việt Nam đã và đang không ngừng xây dựng và phát huy đầy đủ quyền làm
chủ của nhân dân trên thực tế trong nền chính trị nhất nguyên. Nền
chính trị nhất nguyên ở nước ta là do nhân dân ta lựa chọn từ chính
những trải nghiệm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp
cách mạng ở nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân
tộc và toàn thể nhân dân lao động. Đó là độc lập, tự do cho dân tộc; là
quyền tự quyết dân tộc, quyền bình đẳng với mọi quốc gia khác trong
việc lựa chọn con đường phát triển đi lên của mình; là quyền tự do lập
hiến và lập pháp, lựa chọn và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân; là quyền bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các thành
phần kinh tế; quyền tự do làm giàu theo pháp luật, phát huy dân chủ gắn
liền với giữ vững kỷ cương xã hội; là sự phát triển trong đa dạng các
sắc màu văn hóa dân tộc; là sự tiến bộ trong giáo dục, văn hóa, xã hội,
khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu vì sự tiến bộ và phát triển toàn
diện con người… Những thành tựu không thể phủ nhận của nền chính trị
nhất nguyên đó đã khẳng định và ngày càng củng cố vững chắc hơn vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
5.
Dư luận quốc tế, chính phủ và nhân dân các nước dân chủ, tiến bộ trên
thế giới đánh giá cao, ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ nhất
nguyên ở Việt Nam. Trước những thành tựu to lớn của công cuộc đổi
mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, dư luận quốc tế,
chính phủ nhiều nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới đã bày tỏ
sự khâm phục và ủng hộ chế độ chính trị ở Việt Nam. Nhiều đoàn đại biểu
quốc tế sang Việt Nam nghiên cứu và học tập kinh nghiệm về xây dựng sự
ổn định chính trị xã hội. Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước
Nguyễn Minh Triết, ngày 17-6-2007, tờ The Straits Times đã
viết: “Việt Nam là đất nước ổn định, người dân làm việc chăm chỉ và đang
trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Với những yếu tố này cộng lại, Việt
Nam là mỏ vàng cho các nhà đầu tư Mỹ nào biết nắm bắt cơ hội”.
Dưới
con mắt của Tiến sĩ Sổm Phắt Mana Rangsam (Thái Lan), 2 trong 4 thế
mạnh của Việt Nam so với Thái Lan là các nhà lãnh đạo Chính phủ Việt Nam
hiện nay là những nhân vật năng động, có khả năng điều hành kinh tế.
Việt Nam có chế độ chính trị ổn định và nhất quán trong chiến lược phát
triển kinh tế, Việt kiều đã có ý thức hướng về quê hương.
Còn
cựu chiến binh Mỹ Thomas A.Hutchings - người đã từng tham chiến ở Việt
Nam đã viết: “Việt Nam đang thay đổi và có một lịch sử đấu tranh giành
độc lập, thống nhất đất nước thật hào hùng. Bất cứ nỗ lực bên ngoài nào
để áp đặt “những giá trị dân chủ kiểu Mỹ” và kêu gọi chấp nhận thể chế
đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam thì Việt Nam phải kiên quyết từ chối và
bác bỏ”…
Còn
nhiều lý do khác để khẳng định sự bác bỏ đa nguyên chính trị, đa đảng
đối lập ở Việt Nam là có cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn. Để củng cố
quyết tâm chính trị này, cán bộ, chiến sĩ LLVT và nhân dân ta cần tiếp
tục trau dồi đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức chính trị, đề cao tinh
thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm và tư tưởng
thù địch sai trái, giữ vững ổn định chính trị ở nước ta.
Thượng tá, Tiến sĩ NGUYỄN VĂN QUANG
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng
(*) Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 7 (106), 2009, tr.87-89.Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.qdnd.vn/Khong-chap-nhan-da-nguyen-chinh-tri-da-dang-doi-lap/3131202.epi
Báo mới cũng đã dẫn: http://www.baomoi.com/Khong-chap-nhan-da-nguyen-chinh-tri-da-dang-doi-lap/122/3131202.epi
Tư tưởng phân quyền được các nhà triết học đặt ra từ thời La Mã cổ đại, với đại diện tiêu biểu là nhà bác học vĩ đại Aristote (384 - 322 tr.CN). Ông đã chia hoạt động của nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của ông mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó. Tư tưởng về phân quyền chỉ trở thành một lý thuyết toàn diện và độc lập trong thời kỳ Khai sáng. Người khai sinh ra học thuyết này là triết gia người Anh, John Loke (1632-1704) và người có đóng góp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh là nhà luật học người Pháp S. Montesquieu (1689-1755).
Trả lờiXóaNội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực sẽ xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực mà phân chia nó ra.
Trả lờiXóaMuốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền và sau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: Quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.
Trả lờiXóaNhận xét này đã bị tác giả xóa.
Trả lờiXóa"Tính thiện và tính ác không khác gì nhau, ở chỗ, vì nó chuyển biến không ngừng, nó làm cho con người không nhìn rõ đâu là thiện đâu là ác. Lại nữa, tính đa nguyên là tính khoan dung vì cái ác hay cái thiện không đứng im. Chúng ta đứng im để đánh giá ác thiện, sẽ đóng đinh một con người cụ thể muôn đời vào thiện hay ác. Ai ai cũng có thể lúc thiện lúc ác. Chỉ cần buông thả không giữ mình, thậm chí vô tình , cũng làm cho con người, dù thông thái đến mấy, cũng lung lay, cũng dao động, cũng lần lượt đi từ thiện sang ác, rồi lại đi từ ác sang thiện. Đó là tính chất cơ bản của đa nguyên, tính chuyển động không ngừng."
Trả lờiXóaNguồn: Internet!